NỘI DUNG CHI TIẾT
Hình tượng người anh hùng vệ quốc trong văn học viết về chiến tranh thời Trần
1/6/2020

 

                                                                    TS. ĐỖ THU HIỀN

 

Văn học viết về chiến tranh là một trong những dòng chủ đạo xuyên suốt, tạo dựng nhiều đỉnh cao trong toàn bộ tiến trình lịch sử văn học Việt Nam. Khởi đầu của dòng chảy đó chính là mảng văn chương theo khuynh hướng anh hùng ca thời Trần. Đây là thời đại xã hội Đại Việt đã trải qua những sự chuyển biến rất quan trọng, đã bước qua buổi ban đầu xây dựng để chuyển sang giai đoạn bảo vệ chủ quyền và củng cố sức mạnh của đất nước. Đó cũng là giai đoạn chứng kiến sự vận động và phát triển của các hệ tư tưởng, chủ yếu là Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo theo các xu thế khác nhau.

Hình tượng nghệ thuật là một phương thức chiếm lĩnh và biểu đạt đặc thù của nghệ thuật nói chung và của văn học nói riêng. Nó là phương tiện cơ bản và độc lập để biểu hiện nội dung tác phẩm. Bởi vậy, hệ thống hình tượng trung tâm là một tiêu chí không thể thiếu mà chúng ta cần phải quan tâm khi muốn có cái nhìn dẫu là sơ lược về một thời kỳ văn học cũng như khi muốn tìm hiểu tính liên tục và sự vận động của một nền văn học qua các giai đoạn khác nhau. Bài viết này đặt vấn đề nghiên cứu hình tượng nhân vật người anh hùng vệ quốc trong văn học viết về chiến tranh thời Trần từ sự tác động của các hệ tư tưởng chủ yếu là Nho giáo và Phật giáo để tìm ra đặc điểm của kiểu nhân vật này trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học Việt Nam.

1. Mô hình quân chủ quý tộc và sự tác động của nó tới văn hóa thời Trần

Thời Trần (1225 - 1400) là giai đoạn duy nhất trong lịch sử Việt Nam tính từ thế kỷ X có sự tồn tại của chế độ thái ấp điền trang, hay nói như Nguyễn Thị Phương Chi: “Chế độ thái ấp - điền trang gắn liền với vận mệnh của nhà nước quân chủ quý tộc Trần”(1). Nhà Trần phân phong đất đai cho các vương hầu quý tộc, trao cho họ quyền sở hữu và tự chủ trong phạm vi “lãnh thổ” của mình. Chế độ thái ấp - điền trang đã mang lại những lợi ích nhưng cũng có những mặt trái tác động đến sự phát triển của xã hội cũng như vấn đề bảo vệ chủ quyền của đất nước. Tuy vậy, không có giai đoạn nào khác trong lịch sử quân chủ của Việt Nam mà quý tộc lại có được địa vị, quyền lực cũng như vai trò lớn như thời nàỵ. Họ là tầng lớp tinh hoa, là nhân vật trung tâm của nền văn hóa thời đại. Phùng Hữu Lan hình dung mô hình xã hội thời Chu (722 - 481 TCN) của Trung Quốc như sau: “Thời xưa, chính trị do quý tộc nắm, các nước hoặc do nhà Chu phong, hoặc có sẵn từ trước. Trong các nước đó, các khanh đại phu đều là công hầu nối đời làm quan, còn thứ dân thì không thể tham gia chính quyền”(2). Về cấu trúc giai cấp trong xã hội nhà Chu thì Phùng Hữu Lan viết: “Thí dụ như nhà Chu lấy đất phong cho con em làm chư hầu, tức là con em được làm quân chủ lẫn địa chủ những đất ấy. Chư hầu lại lấy đất ấy chia cho con em họ, con em họ lại phân đất ra cho dân đen canh tác. Dân đen không thể tự có đất riêng cho nên chỉ có thể làm nông nô cho hạng chủ nhân trên phương diện chính trị và kinh tế”(3). Là thời đại quá độ từ xã hội nô lệ lên xã hội phong kiến, với sự đổ vỡ của các giá trị cũ và hình thành các giá trị mới, đây là giai đoạn chứng kiến sự tự do về tư tưởng, học thuật chưa bao giờ có  và chưa từng lặp lại trong lịch sử Trung Quốc. Nói về thời đại bách gia chư tử này, Phùng Hữu Lan cho rằng: “Sự phát đạt của triết học thời thượng cổ là so ở sự tự do ngôn luận và tư tưởng bây giờ, mà sự tự do đó là nhờ vào một thời đại giải phóng lớn, một thời đại quá độ lớn vậy”(4).

Xã hội Việt Nam thời Trần cũng đang dừng lại ở chế độ quý tộc chủ nô như nhà Chu. Từ sự tương đồng về hình thái xã hội tiền Nho giáo, có thể thấy nhiều điểm lặp lại giữa thời Trần và xã hội Trung Quốc thời Tiên Tần. Đó là thời kỳ mà xã hội còn chưa bị quy phạm hóa, các thiết chế vật chất và tinh thần vẫn chưa chạm tới trình độ của nhà nước chuyên chế quan liêu tập trung theo mô hình Nho giáo. Sự đa nguyên về mặt văn hóa và tinh thần sùng võ là những đặc điểm chung của xã hội thời Trần và thời Tiên Tần. Xung quanh thế kỷ X đánh dấu nền tự chủ của đất nước, xã hội Việt Nam ngập trong binh đao, loạn lạc. Các triều đại bắt đầu từ Ngô (939 - 965), Đinh (968 - 980), Tiền Lê (980 - 1009) đều giành được ngôi vua bằng thanh gươm yên ngựa, chủ trương võ trị, sử dụng các hình phạt tàn bạo để chế ngự thiên hạ. Ví dụ Đại Việt sử ký toàn thư chép về Đinh Tiên Hoàng: “Vua lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời kinh về động Hoa Lư, xây dựng đô mới, đắp thành, đào hào, làm cung điện, đặt triều nghi. Bề tôi dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh hoàng đế. Vua muốn lấy uy để chế ngự thiên hạ, mới đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi, hạ lệnh rằng: “Người nào trái phép sẽ phải chịu tội bỏ vạc nấu hay cho hổ ăn”. Mọi người sợ phục không ai dám trái”(5). Nhưng giống như nhà Tần (221 - 207 TCN), các triều đại này đều có tuổi thọ ngắn ngủi, cho đến khi nhà Lý (1009 - 1225) lên ngôi, dời đô về Thăng Long thì đất nước mới bước vào thời kỳ mới. Nhà Lý và tiếp theo là nhà Trần với những kinh nghiệm lịch sử và như độ chín của thời đại cùng nguồn gốc xuất thân, dù vẫn sùng võ nhưng đã kịp bồi đắp chất văn hóa cho các dòng họ cai trị và các triều đại, đã bắt đầu biết sử dụng văn trị đưa đất nước trải qua gần 400 năm yên bình. Đi cùng với quá trình bồi đắp văn hóa này là quá trình tiến tới chiếm lĩnh đỉnh cao tri thức Phật học cũng như quá trình Nho giáo hóa dần diễn ra trong mấy trăm năm đó của tầng lớp cầm quyền. Nhà Trần dù ở giai đoạn cuối cùng của quá trình này nhưng sự xa lạ với các phép tắc của Nho giáo của họ đã nhiều lần khiến các sử gia đời sau phải buông lời phê rất nặng. Ví dụ như Ngô Sĩ Liên bàn về quan hệ vua - tôi đời Trần Thái Tông: “Xem như thế đủ biết bây giờ vua tôi cũng vui, không câu nệ lễ phép, cũng là phong tục giản dị, chất phác, nhưng không có tiết độ... Ngự sử là bề tôi giữ việc can ngăn, chức phận phải uốn nắn, chẳng nói thì thôi, lại cùng theo hùa, thì rường mối của triều đình để đâu?”(6).

Thời Lý - Trần là giai đoạn duy nhất trong lịch sử trung đại mang tính đa nguyên về mặt tư tưởng và văn hóa, Nho-Phật-Đạo giáo đều được thừa nhận và có chỗ đứng trong xã hội với mức độ khác nhau tùy thời kỳ. Dù Phật giáo ban đầu thịnh đạt hơn, được triều đình và giới quý tộc ưa chuộng, đặc biệt triều Lý và đầu triều Trần, nhưng Nho giáo và Đạo giáo chưa bao giờ bị bài trừ. Đến cuối thời Trần, vị thế của Nho giáo ngày càng gia tăng, Phật giáo suy yếu dần. Cho đến thế kỷ XV, quá trình đẩy Phật giáo khỏi triều đình để đưa Nho giáo lên địa vị độc tôn đã được khởi đầu từ Hồ Quý Ly, được gia tăng qua cuộc kháng chiến phục quốc thời Minh thuộc với vai trò đặc biệt của Nguyễn Trãi và được hoàn thành vào triều đại của vua Lê Thánh Tông. Chính quá trình vận động đó của các hệ tư tưởng Nho-Phật-Đạo giáo đã góp phần vào việc định hình các đặc điểm của hình tượng người anh hùng vệ quốc trong thời đại này.

Thời Lý - Trần, đất nước Đại Việt non trẻ vừa được thành lập đã phải trải qua một quá trình khó khăn nhưng đầy vinh quang để khẳng định quyền tự chủ của mình. Liên tiếp các cuộc xâm lược từ phương Bắc diễn ra trong suốt chiều dài các triều đại Đinh - Lê - Lý. Đặc biệt, nhà Trần ở nửa cuối thế kỷ XIII phải hứng chịu ba cuộc xâm lược của đế chế Nguyên Mông hùng cường mà vó ngựa đang tràn khắp từ phương Đông sang phương Tây, từ châu Á sang châu Âu. Trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông này, vinh quang trước hết thuộc về các anh hùng vệ quốc. Họ là các vị vua anh hùng, các thân vương quý tộc, các tướng lĩnh cao cấp và binh lính, những người không chỉ có công lãnh đạo dân tộc đi đến thắng lợi vẻ vang mà còn trực tiếp xông pha trận mạc và họ chính là bộ phận ưu tú nhất của thời đại. Kiểu hình tượng này bao gồm hai bộ phận. Bộ phận thứ nhất là vua và quý tộc cao cấp (vua Trần Nhân Tông và sau này như các vua: Trần Anh Tông, Trần Minh Tông; các vị quý tộc như: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải). Bộ phận thứ hai là các thuộc tướng, quân sĩ. Cho dù xuất thân, vị thế và trách nhiệm xã hội khác biệt rất lớn, giữa họ vẫn thống nhất ở một điểm quan trọng hơn hết là cùng chung trách nhiệm bảo vệ đất nước, cho dù với những tính chất và động cơ khác nhau.

2. Anh hùng vệ quốc - vua và quý tộc

Vua và các vị quý tộc tự nhiệm là trung tâm của không chỉ văn học mà còn là văn hóa thời  Lý - Trần. Ở chế độ quân chủ quý tộc nhà Trần, vua và quý tộc là những người phải chịu trách nhiệm về vận mệnh quốc gia. Họ coi nhục của vua, thù của nước là trách nhiệm của chính mình. Thuộc tầng lớp tinh hoa của xã hội, nhiều vị vua và quý tộc nhà Trần ở nửa cuối thế kỷ XIII giữ nhiều vai trò, vừa là các đại thiền sư nắm giữ tri thức cao nhất của thời đại mình, vừa là những nhà chính trị có khả năng sử dụng các kiến thức Nho giáo hiệu quả để cai trị và quản lý đất nước, và cũng là những vị anh hùng có công đầu lãnh đạo các cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc. Hình tượng người anh hùng vệ quốc trong anh hùng ca thời Lý - Trần đã phần nào cho thấy điều đó nhưng có sự vận động, biến đổi qua từng giai đoạn, ở từng tác giả.

Trước hết là hình tượng của các vị hoàng đế, những người lãnh đạo cao nhất của quốc gia lúc bấy giờ. Hình tượng này chủ yếu hiện lên qua thơ của chính họ. Trần Nhân Tông là người sáng lập ra Trúc Lâm thiền phái, là người uyên thâm Phật học bậc nhất đương thời nhưng ông cũng lại chính là người đã có công đầu lãnh đạo đất nước vượt qua hai cuộc chiến tranh để giữ vững được bờ cõi trước sức mạnh tưởng như bất khả chiến bại của quân Nguyên Mông. Ông là tác giả lớn với số lượng thơ văn đáng kể so với đương thời. Vậy nhưng dấu ấn của hai chiến công oanh liệt này của nhà Trần trong thơ ông lại không nhiều. Mảng văn chương viết trực tiếp về chiến tranh trong thời này thực ra vô cùng hiếm hoi, chỉ một bài hịch của Trần Quốc Tuấn, đôi câu thơ của Trần Nhân Tông và một bài thơ của Trần Quang Khải. Đầu tiên phải kể đến câu thơ Trần Nhân Tông sáng tác khi vua tôi nhà Trần đang trên đường rút khỏi kinh thành Thăng Long thực thi kế sách “vườn không nhà trống”: “Cối Kê cựu sự quân tu ký/ Hoan, Diễn do tồn thập vạn binh” (Cối Kê việc cũ ngươi nên nhớ/ Hoan, Diễn đang còn chục vạn quân)(7). Và hai câu thơ sau chiến thắng trên sông Bạch Đằng, về lại Thiên Trường làm lễ dâng thắng trận ở Chiêu Lăng, Trần Nhân Tông đã tức cảnh mà thành: “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã/ Sơn hà thiên cổ điện kim âu” (Xã tắc hai phen chồn ngựa đá/ Non sông nghìn thuở vững âu vàng)(8). Đang trong lúc nước sôi lửa bỏng, cái điềm đạm ung dung tự tại tạo nên khí khái phi thường của nhà vua đã củng cố niềm tin của dân tộc vào chiến thắng. Nhưng khi giặc giã dẹp yên, trong phút giây mừng thắng lợi, ông lại là người ngay lập tức suy nghĩ xa hơn cho tương lai của đất nước. Xét cho cùng, cái thái độ an nhiên bình thản trước mọi diễn biến của cuộc đời ấy có lẽ xuất phát từ trí tuệ của một vị đại thiền sư đã đạt tới cảnh giới “đối cảnh vô tâm”, thật sự thấu triệt mọi lẽ sinh diệt của cuộc đời. Nhưng bên cạnh đó, cảm xúc của Trần Nhân Tông khi nhìn vết tích của cuộc chiến tranh qua hình ảnh những con ngựa đá ở Chiêu Lăng thì lại chính là cái cảm khái theo kiểu của nhà Nho. Tư duy của Nho gia khi đối diện với chiến thắng thì sẽ mừng vui một cách chừng mực và lập tức lo nghĩ xa hơn đến tương lai vững bền của đất nước ở phía trước. Là người theo Phật giáo nhưng ở vị thế là một vị hoàng đế, lại sống ở thời đại của Nho-Phật-Đạo giáo đồng hành, Trần Nhân Tông đã tiếp thu cả Nho giáo không chỉ trong phương diện tri thức để cai trị đất nước mà còn cả tinh thần của nhà Nho khi đối diện với cuộc đời. Tất cả những thứ ấy tạo nên triết lý sống “cư trần lạc đạo” của hoàng đế - thiền gia và thi gia Trần Nhân Tông.

Sinh ra khi những cuộc chiến đã lùi vào dĩ vãng, vua Trần Minh Tông vẫn xứng đáng được coi là người tiếp nối “hào khí Đông A”. Hình tượng Trần Minh Tông trong thơ ông vẫn rất đậm khí chất của giai đoạn đỉnh cao của nhà Trần, biểu lộ một nỗi lòng luôn suy tư, lo âu cho đất nước, dân tộc. Chất Nho giáo ở các vị vua như Trần Minh Tông đã sâu sắc hơn rất nhiều so với các vị tiên tổ của mình, thể hiện trong Bạch Đằng giang: “Sơn hà kim cổ song khai nhãn/ Hồ Việt doanh thâu nhất ỷ lan/ Giang thủy đình hàm tà nhật ảnh/ Thác nghi chiến huyết vị tằng can”(9) (Non sông này xưa nay đã hai lần mở mắt/ Cuộc hơn thua giữa Hồ và Việt thoáng qua như lúc dựa vào lan can/ Nước sông chan chứa rọi bóng mặt trời buổi chiều đỏ ối/ Còn ngỡ là máu chiến trường thuở trước chưa từng khô).

Cũng là hoài cố chiến tranh nhưng cảm thức suy tư theo kiểu Nho giáo về hình tượng người đứng đầu đất nước trong chiến tranh còn rành rọt hơn nữa qua sáng tác của nhà Nho Trương Hán Siêu. Trong Bạch Đằng giang phú nổi tiếng của ông có đoạn: “Anh minh hai vị thánh quân/ Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh/ Giặc tan muôn thuở thăng bình/ Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao”(10). Nhà Nho đã mang nội dung đạo đức, quan niệm về “văn trị” của Nho giáo ra để hình dung về chiến công của các vua Trần thuở trước. Đối với họ, điều quan trọng hơn hết khi hoài niệm về một cuộc chiến tranh trong quá khứ là chiêm nghiệm, đúc rút ra các bài học cho tương lai. Nguyên nhân quan trọng nhất để có được chiến thắng cũng như để mang lại thái bình vạn cổ cho đất nước, theo quan niệm của họ, chính là đức của nhà vua chứ không phải tài năng, không phải đất hiểm.

Trong số các tác phẩm được sáng tác khi cuộc chiến tranh đang xảy ra, hình tượng nổi bật nhất chính là vị quốc công tiết chế của hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên là Trần Quốc Tuấn. Trong tác phẩm Hịch tướng sĩ của mình, ông viết: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa được xả thịt lột da, nuốt gan, uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng”(11). Bài hịch đã thể hiện nỗi lòng của một vị quý tộc chân chính trước nỗi nhục và mối thù “không đội trời chung” của quốc gia. Đối với Trần Quốc Tuấn, không có gì đáng căm giận hơn việc phải trông thấy “sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ”(12), không có gì đáng hổ thẹn hơn việc phải “nghe nhạc thái thường để đãi yến nguỵ sứ”, “làm tướng triều đình phải hầu quân giặc”(13). Ông coi việc biết căm giận trước những điều ấy là trách nhiệm của kẻ làm tướng và việc biết trả mối nhục ấy là nghĩa vụ của người cầm quân. Hình tượng Trần Quốc Tuấn sừng sững như một bức tường thành vạn dặm che chắn cho quốc gia, luôn lo nghĩ cho đất nước, luôn hành động vì lợi ích chung; sau này được Phạm Ngũ Lão, người từng là môn khách, sau là con rể của ông khắc họa lại trong Vãn thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương(14) khi ông qua đời: “Cửu trùng minh giám kim vong hĩ/ Vạn lý trường thành thục hoại chi” (Tấm gương sáng của cửu trùng nay đã mất rồi/ Bức trường thành vạn dặm ai làm cho sụp đổ).

Thời Trần, vấn đề bảo vệ đất nước đối với vua và quý tộc nhà Trần không chỉ mang ý nghĩa dân tộc. Quyền lợi quốc gia đối với họ gắn liền với quyền lợi của bản thân và gia tộc. Bởi thế, Trần Quốc Tuấn nói đến lợi ích của mình và tướng sĩ trong khi nói về đất nước.

3. Anh hùng vệ quốc - thuộc tướng và binh sĩ

Ở anh hùng ca thế kỷ XIII, kiểu hình tượng trung tâm thứ hai là hình tượng thuộc tướng và quân sĩ. Thời bây giờ, các vị vương thân quý tộc như Trần Quốc Tuấn, Trần Nhật Duật... đều thi nhau chiêu mộ và nuôi dưỡng kẻ sĩ trong nhà. Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão, rồi cả Trương Hán Siêu đều là môn khách của Trần Quốc Tuấn. Nhiều người trong số họ trở thành những thuộc tướng dưới quyền của các vị thân vương. Trần Quốc Tuấn trong Hịch tướng sĩ có ra lời kêu gọi các tì tướng “huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên” để “rửa nhục” cho đất nước. Họ chính là những người có trách nhiệm bảo vệ cho giang sơn, xã tắc. Ông coi rằng việc “thấy nước nhục” phải “biết thẹn” là nghĩa vụ của những người tì tướng này. Bản thân những người thuộc tướng cũng nghĩ như vậy. Phạm Ngũ Lão viết Thuật hoài: “Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu/ Tam quân tì hô khí thôn ngưu/ Nam nhi vị liễu công danh trái/ Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”(15) (Cắp ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu/ Ba quân như hổ báo át cả sao Ngưu/ Thân nam nhi nếu chưa trả xong nợ công danh/ Ắt thẹn thùng khi nghe người đời kể chuyện Vũ Hầu). Cái đẹp của người tráng sĩ được ca ngợi ở đây chính là việc cầm ngang ngọn giáo trấn giữ giang sơn, sức mạnh của quân sĩ được tôn vinh ở đây chính là hùng khí ngút trời lấn át được sao Ngưu. Hình tượng người anh hùng vệ quốc thời này mang kích cỡ kỳ vĩ phi phàm. Bằng thi pháp của anh hùng ca, Phạm Ngũ Lão đã xây dựng được một tượng đài cao vời vợi mang tầm vóc của vũ trụ. Trong câu thơ thứ nhất, hành động cầm ngang ngọn giáo đã khiến hình tượng người tráng sĩ trải rộng cùng chiều rộng của giang sơn đất nước. Đến câu thơ thứ hai, hình tượng người tráng sĩ được đẩy lên theo chiều cao vô tận của đất trời. Hình tượng đó còn được đặt trong chiều kích thứ ba là thời gian. Hai câu thơ sau đề cập đến điều mà người anh hùng thường coi là quan trọng nhất trong cuộc đời, thứ làm nên giá trị của người anh hùng, đó là khát vọng công danh.

Cùng mạch cảm xúc về khí thế của quân sĩ thì không thể không nhắc đến bài thơ tứ tuyệt nổi tiếng Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải; được Thượng tướng làm khi vừa ca khúc khải hoàn về tới kinh sư, sau này được Ngô Sĩ Liên chép lại trong Đại Việt sử ký: “Đoạt sóc Chương Dương độ/ Cầm Hồ Hàm Tử quan/ Thái bình tu trí lực/ Vạn cổ thử giang san”(16) (Chương Dương cướp giáo giặc/ Hàm Tử bắt quân thù/ Thái bình nên gắng sức/ Non nước ấy ngàn thu). Chiến thắng huy hoàng của nhà Trần trước quân Nguyên Mông được thể hiện chỉ trong hai câu thơ năm chữ, nhắc về hai sự kiện tiêu biểu, tạo cảm xúc mạnh: Chương Dương, Hàm Tử. Sức nặng của bài thơ được làm nên một phần lớn bởi chính bản thân những chiến công còn rất tươi mới. Tính chất hàm súc, ngẫu hứng và thời sự là đặc điểm của thơ viết trực tiếp về chiến công sa trường ở thời này. Với hai nét chấm phá “đoạt sóc” và “cầm Hồ”, Trần Quang Khải đã phác họa được hình tượng anh hùng của cả một tập thể quân tướng nhà Trần. Binh sĩ không phải là đối tượng được chú ý đến nhiều ở thời Lý - Trần. Hình tượng ba quân chỉ có tính chất làm nền để tôn vinh người võ tướng ở trung tâm. Nhưng dẫu sao chúng ta cũng ghi nhận rằng đã có sự xuất hiện hình ảnh người anh hùng tập thể. Trách nhiệm của tướng sĩ là bảo vệ đất nước, thế nhưng không như quý tộc, ý thức của các tì tướng và binh sĩ thời này về quốc gia dân tộc trên các tiêu chí cụ thể là rất mờ nhạt, rất gần với quan niệm về một hình thái công xã thời cổ đại. Họ quan niệm xã tắc, sơn hà là của vua và quý tộc. Với họ, “chủ nhục” và “nước nhục” không hoàn toàn tách biệt. Và do vậy, việc bảo vệ đất nước đối với các thuộc tướng thời này có tính chất như sự nối tiếp trách nhiệm bảo vệ công xã của các võ sĩ thời cổ đại. Nhưng bảo vệ đất nước chưa phải là thuộc tính quan trọng nhất của các kiểu anh hùng vệ quốc này. Hiệp sĩ là kiểu nhân vật độc đáo của thời đại Tiên Tần, là sản phẩm của tinh thần sùng thượng vũ dũng và chế độ quý tộc chủ nô thời này. Mối quan hệ giữa quý tộc và hiệp sĩ là quan hệ giữa người gia ơn và người nhận ơn. Tinh thần nghĩa hiệp đòi hỏi hiệp sĩ phải đem hết sức mình ra đền ơn “tri ngộ”. Chính vì vậy mà thời đại này đã nảy sinh ra những nhân vật quý tộc hào hiệp, trong nhà lúc nào cũng có hàng nghìn tân khách như Bình Nguyên Quân, Mạnh Thường Quân và những hiệp sĩ huyền thoại như Kinh Kha, Dự Nhượng. Với sự tương đồng về hình thái xã hội như trên đã nói, ở đời Trần cũng tồn tại mối quan hệ nảy sinh giữa những vị quý tộc có quyền thế và hào sảng như Trần Nhật Duật, Trần Hưng Đạo và môn hạ là những tráng sĩ tài năng và nhiệt huyết, sẵn sàng đem thân mình báo đáp ơn nghĩa của chủ. Chính tinh thần võ hiệp đó cộng với ý thức mạnh mẽ về dân tộc đã góp phần tạo nên hào khí thời đại, tạo nên hình tượng người anh hùng vệ quốc thời này. Trần Bình Trọng vốn xuất thân thấp kém, được ban cho họ Trần, được gả công chúa cho, khi bị giặc bắt đã dũng khái trả lời chúng rằng: “Thà làm ma nước Nam chứ không làm vương đất Bắc”(17). Cái chết của Trần Bình Trọng không chỉ là đại nghĩa báo quốc mà còn mang ý nghĩa đáp đền ơn tri ngộ. Đại Việt sử ký toàn thư còn chép chuyện Yết Kiêu chống thuyền trên Bãi Tân đợi Trần Hưng Đạo(18). Những người như Trần Bình Trọng, như Yết Kiêu, như Phạm Ngũ Lão trong cuộc chiến đấu chống quân Nguyên và cả sau này đều đã đóng góp rất nhiều công sức.

Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn là tác phẩm khắc họa rõ nét nhất những đặc tính của hình tượng người võ tướng này. Đối tượng bài hịch hướng tới là các tì tướng, giọng điệu là giọng điệu kẻ bề trên khuyên răn người dưới. Không dài lời, bài hịch tác động chủ yếu đến lòng tự trọng, tinh thần nghĩa hiệp của võ sĩ và nhắc đến ơn tri ngộ phải báo đáp. Hai vấn đề được Trần Quốc Tuấn đưa ra là nỗi nhục của đất nước và sự khổ tâm của người chủ. Bắt đầu bài hịch, Trần Quốc Tuấn nói đến những gương trung liệt, hai mẫu hình đòi hỏi tướng sĩ của mình phải học theo, đó là sự trung thành của hiệp khách và trung liệt của kẻ sĩ: Kỷ Tín với Cao Đế, Do Vu với Chiêu Vương, Dự Nhượng với Trí Bá, Thân Khoái với Tề Trang Công, Kính Đức với Đường Thái Tông... Rõ ràng, đối với các tì tướng của mình, Trần Quốc Tuấn không chỉ đòi hỏi sự trung thành với vua, với nước mà cả sự đền ơn đối với chủ, người đã đối đãi với kẻ dưới theo cách “không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm, quan nhỏ thì ta thăng chức... lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui cười”(19). Do đặc thù của Việt Nam cho nên ơn đối với chủ không bao giờ tách rời trách nhiệm với nước: “Nay các người nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn”(20). Chỗ dựa tinh thần của bài hịch ở nghĩa cả của võ sĩ đối với chủ nhiều hơn là ở trách nhiệm của kẻ bề tôi với vua, với đất nước: “Nếu các ngươi chuyên tập sách này, theo lời dạy bảo của ta thì mới phải đạo thần chủ”(21).

Trần Quốc Tuấn không dùng lý lẽ nhân nghĩa mà chỉ đánh vào lòng tự trọng của võ sĩ. Các phạm trù của tinh thần hiệp sĩ như rửa nhục, báo thù, lưu phương thiên cổ, trọng danh dự và khí tiết... đều được nhắc đến. Về điểm này, ta có thể thấy ở trong thơ của những võ tướng khác nữa: Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão: “Nam nhi vị liễu công danh trái/ Tu thính nhân gian thuyết vũ hầu”(22) (Công danh nam tử còn vương nợ/ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu); Ngôn hoài của Nguyễn Chế Nghĩa: “Đính thiên lập địa trượng phu thân/ Chí khí đường đường mại đẳng luân”(23) (Thân trượng phu đội trời đạp đất/ Chí khí phải cao vượt người cùng lứa). Chính vì thế, hình tượng người anh hùng vệ quốc thời này tồn tại như những cá nhân độc lập. Họ hành động vì trả ơn riêng bên cạnh ý thức dân tộc. Đương nhiên, tính cá nhân của loại hình tượng này chỉ xét ở động cơ ý thức. Ngoài vấn đề dân tộc, người chiến sĩ còn hành động bởi những lý do gắn với quyền lợi cá nhân mà ở chỗ này thì áng văn nổi tiếng nhất đương thời Hịch tướng sĩ lại coi là nguyên cớ tối quan trọng buộc tướng sĩ phải lên ngựa lập công: “Nay các ngươi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhà nhục mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức; nghe nhạc thái thường để đãi yến ngụy sứ mà không biết căm”(24) và “Như vậy, chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến của ta được êm ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão; chẳng những tông miếu của ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các người cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các ngươi trăm năm về sau tiếng vẫn lưu truyền; chẳng những danh hiệu ta không bị mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu thơm. Lúc bây giờ dẫu các ngươi không muốn vui vẻ, phỏng có được không?”(25). Người chủ tướng là Trần Quốc Tuấn hành động vì quốc gia dân tộc là thuộc sở hữu của dòng họ Trần. Các tì tướng hành động vì ơn nghĩa riêng với Trần Quốc Tuấn. Như vậy là với người võ sĩ, điều thúc giục họ phải chú tâm rèn tập chuẩn bị đánh giặc phần lớn là bởi đền ơn chủ gắn với lợi ích của bản thân họ.

Một đặc điểm nữa của hình tượng người võ sĩ thời này là yếu tố “man dũng” cổ đại. Không chỉ nói đến chuyện rửa nhục, trả thù, Hịch tướng sĩ còn nói đến chuyện xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu kẻ địch, đến chuyện “bêu đầu Hốt Tất Liệt”, “rữa thịt Vân Nam Vương”. Khi viết về nỗi lo âu, sự đau lòng của người chủ tướng, bài hịch có đoạn: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng”(26). Những câu văn nổi tiếng ấy đã biểu hiện cao độ lòng căm thù không đội trời chung của vị chủ soái với quân giặc. Nhưng lòng căm thù ấy đã được khắc họa bằng những cảnh tượng huy hoàng đẫm máu của chiến thắng. Và yếu tố “man dũng” rất đặc trưng ấy vẫn còn có thể tìm thấy trong thơ Bạch Đằng giang của Trần Minh Tông mãi sau này: “Giang thủy đình hàm tà nhật ảnh/ Thác nghi chiến huyết vị tằng can”(27) (Nước sông chan chứa rọi bóng mặt trời buổi chiều đỏ ối/ Còn ngỡ là máu chiến trường thuở trước chưa từng khô). Đây là một đặc thù của anh hùng ca ở thời đại sùng thượng võ công. Các nhà Nho của thế kỷ XV sẽ không còn tư duy như thế nữa.

Hồi quang của hình tượng người anh hùng vệ quốc theo kiểu này còn kéo dài cho đến tận thời hậu Trần với Cảm hoài của Đặng Dung. Cái bi phẫn của con người đem hùng tâm tráng chí với nghĩa liệt báo quốc, lòng nhiệt thành giúp chủ xoay chuyển càn khôn nhưng không gặp thời chính là dư âm cuối cùng của “hào khí Đông A”. Nhưng Đặng Dung là nhà Nho trung liệt chứ không còn là một võ tướng quý tộc. Hành động tuẫn tiết sau này của ông được coi là “sát thân thành nhân”, “tuẫn thân báo quốc”. Cảm hoài là ý chí của người anh hùng tế thế trí quân trạch dân, thấm đẫm màu sắc của tư tưởng Nho giáo. Con người ấy nghĩ tới “quốc” với “vua” (vua là tượng trưng cho nước, cho thiên hạ). Tuy vậy, hào khí ngút trời tinh thần thượng võ đời Trần đã làm ông khác các nhà Nho hậu thế. Và đây chính là bước chuyển của các hình tượng: từ hình tượng võ tướng quý tộc tự nhiệm sang thánh hiền hào kiệt thực thi đại đạo.

Cuối đời Trần, xã hội lâm vào tình trạng cực kỳ rối ren, đất nước đứng trước những đổ vỡ nghiêm trọng từ ngay trong lòng xã hội. Sự kiện Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần không những đã không cải thiện được tình hình mà còn kéo theo cuộc xâm lược và đô hộ hơn hai mươi năm của nhà Minh, đẩy nước Đại Việt vào một cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất, một phen loạn lạc chưa từng thấy sau mấy trăm năm cường thịnh của hai triều đại Lý - Trần. Lúc này, các quý tộc nhà Trần đã hoàn toàn bất lực trước lịch sử, vai trò của họ đã được chuyển giao cho những lực lượng xã hội mới. Lịch sử dân tộc đòi hỏi xuất hiện mẫu hình người anh hùng mới để thực thi sứ mệnh cứu vãn dân tộc. Người thánh hiền hào kiệt đã xuất hiện trong hoàn cảnh như vậy. Đây cũng là thời kỳ mà xu thế Nho giáo hóa trong xã hội Việt Nam đã trở nên rất rõ ràng, Phật giáo gần như đã mất hết ưu thế để nhường chỗ cho Nho giáo ở hầu hết mọi lĩnh vực: chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật, văn học... Hình tượng xuất hiện nhiều nhất trong thơ văn thời Lê sơ chính là hình tượng vị thánh nhân cứu nước. Điều đặc biệt là hình tượng nhân vật này xuất phát từ một nguyên mẫu duy nhất trong hiện thực, đó là Lê Lợi. Nói một cách khác, hình tượng vị thánh nhân cứu nước trong văn chương thời này chính là hình tượng Lê Lợi - vị chủ tướng của khởi nghĩa Lam Sơn, vị vua sáng lập ra triều Lê. Nếu hình tượng người anh hùng vệ quốc trong văn học thời Trần là dấu cộng của tinh thần võ sĩ và tinh thần yêu nước thì vị thánh nhân cứu nước của văn học Lê sơ lại là sự đồng nhất giữa mẫu hình thánh nhân Nho gia và mẫu hình người anh hùng dân tộc. Hình tượng này đã cho thấy vị thế của Nho giáo trong xã hội Đại Việt thời kỳ này là không thể đảo ngược được.

                                            Đ.T.H

 

Chú thích:

1. Nguyễn Thị Phương Chi (2002). Thái ấp - điền trang thời Trần (thế kỷ XIII-XIV). Nxb Khoa học Xã hội, tr. 284.

2. Phùng Hữu Lan (2006). Lịch sử triết học Trung Quốc, tập 1 (Lê Anh Minh dịch). Nxb Khoa học Xã hội, tr. 51.

3. Phùng Hữu Lan (2006). Sđd. tr. 53.

4. Phùng Hữu Lan (2006). Sđd. tr. 57.

5. Ngô Sĩ Liên (2006). Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1 (Cao Huy Giu dịch). Nxb Văn học, tr. 190.

6. Ngô Sĩ Liên (2006). Sđd. to. 423.

7. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1988). Thơ văn Lý Trần, tập II, quyển thượng. Nxb Khoa học xã hội, tr. 483.

8. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1988). Sđd. tr. 483.

9. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1988). Sđd. tr. 797.

10. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1988). Sđd. tr. 743.

11. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1988). Sđd. tr. 390 - 392.

12. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1988). Sđd. tr. 390 - 392.

13. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1988). Sđd. tr. 390 - 392.

14. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1988). Sđd. tr. 563 - 564.

15. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1988). Sđd. tr. 562 - 563.

16. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1988). Sđd. tr. 424.

17. Ngô Sĩ Liên (2006). Sđd. tr. 462.

18. Ngô Sĩ Liên (2006). Sđd. tr. 459.

19. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1988). Sđd. tr. 390 - 392.

20. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1988). Sđd. tr. 390 - 392.

21. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1988). Sđd. tr. 390 - 392.

22. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1988). Sđd. tr. 562 - 563.

23. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1988). Sđd. tr. 585.

24. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1988). Sđd. tr. 390 - 392.

25. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1988). Sđd. tr. 390 - 392.

26. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1988). Sđd. tr. 390 - 392.

27. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1988). Sđd. tr. 797.

 

Kỳ họp thứ Chín, Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVIII thành công tốt đẹp


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác bồi dưỡng đạo đức nhà giáo hiện nay
Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Phú Thọ làm theo lời Bác!
Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phan Đinh: Gia tài lớn nhất đời tôi là những tấm ảnh Bác Hồ
Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ với cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Trường Tiểu học thị trấn Thanh Ba học tập và làm theo gương Bác
50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nghĩ về 5 lời thề
Bí thư Đoàn năng động
Tuổi trẻ huyện Lâm Thao học tập và làm theo lời Bác
HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.