NỘI DUNG CHI TIẾT
Truyền thuyết và lễ hội với vấn đề thủ đô nước Văn Lang
5/12/2020

 

                                                                        NGUYỄN KHẮC XƯƠNG

 

Thời đại Hùng Vương là thời đại chưa có chính sử, chưa có tư liệu văn bản. Tìm hiểu về buổi bình minh dân tộc cũng như về thủ đô nước Văn Lang thời các Vua Hùng, chúng ta không thể bỏ qua nguồn truyền thuyết dân gian phong phú mang nhiều nét hiện thực về một quá khứ xa xưa. Nhà bác học Lê Quý Đôn từng nêu ý kiến: “Từ đời Xuân Thu, Chiến Quốc về trước, cách đời xưa chưa xa, bấy giờ tục phương nam sơ sài, chưa có sử sách để ghi việc thực, cho nên việc xưa phần nhiều là xét bỏ, may mà không đến nỗi mất hẳn là nhờ có lời truyền miệng của dân gian”.

Đồng chí Phạm Văn Đồng, nhân Giỗ Tổ Hùng Vương năm 1969, nói về công cuộc đi sâu tìm hiểu thời đại Hùng Vương cũng đã nhắc tới nguồn truyền thuyết dân gian: “Những truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thật lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ lý tưởng hóa, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng”.

Với phương pháp nghiên cứu tổng hợp và phương hướng “Tìm sử trong truyện” những người nghiên cứu văn hóa dân gian sẽ góp phần tích cực trong vấn đề xác định thủ đô nước Văn Lang thời các Vua Hùng.

Trên đất Phú Thọ đã phát hiện được 6 nơi có sự tích Hùng Vương chọn đất đóng đô nhưng nơi nào cũng không được vua vừa ý để rồi vua đã chọn đất Bạch Hạc - Việt Trì mà định đô cho nước Văn Lang non trẻ: “Vua đi mãi nơi này nơi khác mà chưa chọn được nơi nào có thể định đô. Đi tới một vùng: Trước mặt ba sông tụ hội, hai bên có Tản Viên, Tam Đảo chầu về, đồi núi gần xa, khe ngòi quanh quất, thế đất bày ra như hình hổ phục rồng chầu, tướng quân bắn nỏ, ngựa chạy phượng bay. Giữa những quả đồi xanh tốt thấy có ngọn núi đột ngột nổi lên như con voi mẹ nằm giữa đàn voi. Vua lên núi nhìn ra bốn phía thấy ba bề bãi rộng bồi đắp phù sa, bốn mặt cây xanh hoa tươi quả ngọt, vừa trùng điệp vừa quanh co, có rộng mà phẳng, có hẹp mà sâu, vua cả mừng khen rằng đây thực là đất họp muôn dân, đủ hiểm để giữ, có thế để mở, thế đất vững bền có thể dựng nước được muôn đời. Vua Hùng đặt đô ở đó, gọi tên là thành Phong Châu.

Như vậy, đất định đô miêu tả như trên chính là vùng đất từ Ngã ba Hạc về tới núi Hùng - nơi có Đền Hùng mộ Tổ, bao gồm thành phố Việt Trì “Trước mặt ba sông tụ hội, hai bên có Tản Viên, Tam Đảo chầu về” và “Ba bề bãi rộng bồi đắp phù sa” cho tới nơi có “Ngọn núi đột ngột nổi lên như con voi mẹ nằm giữa đàn con” là ngọn núi Hùng thuộc làng Cổ Tích, xã Hy Cương (huyện Lâm Thao).

Các bài ca vè dân gian về Hội Đền Hùng, Giỗ Tổ Hùng Vương cũng cho biết: Hai ngàn lẻ năm trường vẫn thịnh/ Ngôi đế vương đã định Phong Châu/ Bốn nghìn năm lẻ về sau/ Miếu lăng ở hạt Lâm Thao núi Hùng/ Xem địa thế trùng trùng long hổ/ Tả Đảo Sơn mà hữu Tản Viên/ Lô, Đà hai nước hai bên/ Giữa sông Thao Thủy dòng trên Nhị Hà...

Những câu thơ trên đã minh họa cho truyền thuyết, vẽ bức tranh toàn đồ khái quát địa lý Việt Trì với ba sông Lô, Thao, Đà tụ hội, với hai dãy Tản Viên, Tam Đảo hai bên và núi Hùng ở “hạt Lâm Thao” là nơi đặt lăng miếu nhà Hùng.

Truyền thuyết không chỉ cho biết về kinh đô thời Văn Lang được đặt ở đất nào, mà còn cho thấy việc chọn đất định đô của Hùng Vương quả là thận trọng và có nhiều cân nhắc.

Nếu ở Việt Trì đã có nhiều di chỉ mà hiện vật khảo cổ có giá trị lịch sử cao và độ tin cậy là tuyệt đối, thì Việt Trì cũng là một vùng truyền thuyết về một đô thành cổ đại của người Việt. Làng Lú (hay Nú) nay về xã Minh Nông, là nơi Vua Hùng dạy dân trồng cây lúa nước và tại ruộng lúa này nhà Vua đã cắm cây tre làm nêu, phân định khoảng ruộng Vua cày cấy. Phường Nông Trang xưa là kho thóc của nhà vua. Bánh chưng và bánh dầy là hai thứ bánh hàng đầu trong lễ nghi và phong tục có ý nghĩa biểu trưng cho văn hóa Việt Nam, cũng được ra đời trên đất Việt Trì với Hoàng tử Lang Liêu một đêm trăng trong gió mát thơm ngát mùi hương lúa nếp đã giúp Hoàng tử nghĩ ra hai thứ bánh này. Nơi Hoàng tử tìm ra thứ lễ vật quý hiếm để chúc thọ Vua cha nay là làng Hương Trầm thuộc Việt Trì. Cũng chuyện cây lúa còn có Thậm Thình - nơi dân giã gạo phục vụ nhà vua. Phường Tiên Cát có tên nôm là kẻ Gát - xưa có bến cát Trường Sa, nơi bà Trưng Nhị tập luyện quân sĩ và Trường Sa cũng là nơi Vua Hùng thứ 18 lập lầu kén rể, nơi đọ sức của thần núi và thần nước để tranh giành người đẹp Ngọc Hoa. Các làng Lâu Thượng, Lâu Hạ, Tiên Cát, Thanh Miếu xưa đều là cung điện của Vua Hùng, làng Quất Thượng là vườn quýt của nhà vua cũng như Dữu Lâu hay kẻ Trầu là vườn trầu với tục ăn trầu, một tục lâu đời của nhiều sắc dân Đông Nam Á.

Chúng ta còn có thể kể nhiều truyền thuyết thời Hùng Vương trên đất Việt Trì. Kiểm học Phạm Xuân Độ trong “Phú Thọ tỉnh địa chí” (1940) cũng nêu một số địa danh gắn với truyền thuyết như: Vân Đội, Cẩm Đội là trại lính, Nỗ Lực là trường tập bắn, Minh Nông, Phú Nông là kho lương. Phía tả làng Việt Trì có hai thôn Tràng Đông, Tràng Nam là kho lương, Lâu Thượng, Lâu Hạ là cung cấm các nàng các mệ và viết: “Theo tục truyền, các danh hiệu ấy đều có liên lạc mật thiết đến lịch sử Hồng Bàng”.

Truyền thuyết nhiều khi được chuyển hóa thành các trò diễn, các diễn xướng ở lễ hội làng quê, đó là hiện tượng phổ biến, biểu hiện tính đặc trưng của các trò diễn lấy truyền thuyết làm cốt trò và gắn với tín ngưỡng thần linh, trong đó có tín ngưỡng thành hoàng. Chỉ nói về thời Hùng Vương, chúng ta được thấy những truyền thuyết về Sơn Tinh - Thủy Tinh, về Ngọc Hoa công chúa, về thần núi Tản đánh Thục chúa... đã được “biên kịch” thành các trò diễn mang tính thiêng như ở Phú Thọ mà tập trung là ở Việt Trì và Lâm Thao - khu vực Đền Hùng. Những trò diễn ấy có ý nghĩa tưởng nhớ các thần, có khi là trò diễn, có khi là hình thức lễ nghi mà có khi chỉ là một hèm tục nhưng được coi như khai thác từ sự tích các vị thần, có nghĩa là từ truyền thuyết và thần tích.

Trước hết nói về cây lúa, truyền thuyết cho biết xã Minh Nông xưa là nơi Vua Hùng dạy dân cấy lúa, từ truyền thuyết này và từ tín ngưỡng trồng lúa mà đã có hình thức lễ nghi: Chủ tế xuống ruộng cấy vài dảnh mạ “vào đám”, mọi người té nước vào nhau, sau đó là lễ tế Hùng Vương ở một cây đa lớn gọi là “Cây Đa đồn” mà theo truyền thuyết Vua Hùng cấy lúa xong lên nghỉ ở đó. Tục này chính là lễ hạ điền nông nghiệp được gắn vào sự tích Hùng Vương. Tới vụ cấy, chủ tế hay tiên chỉ làm lễ ở đình rồi ra ruộng cấy, mọi người té nước, chỉ sau lễ này dân làng mới cấy. Hình thức lễ hạ điền này là phổ biến ở đồng bằng và trung du miền Bắc và cả ở nhiều vùng cư trú của người Mường. Ở Việt Trì nó được gắn với truyền thuyết Hùng Vương cũng có cái lôgíc của nó. Nước Văn Lang ra đời từ kinh tế trồng lúa nước, vậy tất yếu phải ra đời nghi lễ cầu mùa ở quốc đô. Với tư cách là thủ lĩnh bộ tộc, là người có chức vụ quản lý hành chính cao nhất đồng thời là đại tư tế, Vua Hùng phải là người chủ trì lễ nghi.

Tục nấu cơm thi là một trò đua tài thi khéo được thấy ở nhiều làng trên đất nước ta. Ở Việt Trì và vùng phụ cận Đền Hùng là làng Phùng Nguyên (có di chỉ hậu kỳ đá mới điển hình), trò này cũng được đặt vào thời kỳ Hùng Vương và được coi là cuộc thi tài của các Mỵ Nương. Bạch Hạc thi nấu cơm đi từ xay giã, nhóm lửa cho tới khi có nồi cơm chấm giải. Phùng Nguyên bớt được khâu xay giã. Nếu xã hội Văn Lang là một xã hội phát triển, thi nấu cơm hay nói cách khác là thi chế biến hạt gạo hẳn cũng có thể ra đời từ thời kỳ này và trở thành phổ biến ở toàn quốc vào thời kỳ văn hóa Đại Việt. Đỉnh cao của văn hóa Văn Lang, của kỹ thuật chế biến lương thực chính là bánh chưng bánh dầy được coi là hai thứ bánh lễ nghi phong tục. Cả nước đều không thể thiếu bánh chưng trên bàn thờ tổ tiên ngày Tết, cả nước lễ thần và cưới xin với bánh dầy, hai thứ bánh này đánh dấu một bước tiến của xã hội Văn Lang và của nông nghiệp Việt Nam thời cổ đại.

Cây nêu cũng là một vấn đề cần được bàn. Sự hiện diện của cây nêu trong ngày Tết ở nước ta vẫn được giải thích bằng Phật thoại nhưng cây nêu ở Việt Trì và Lâm Thao trong các lễ hội lại được giải thích bằng truyền thuyết Hùng Vương. Đó là cây nêu ra đời cùng với quyền sở hữu ruộng cấy của cư dân nông nghiệp trong bình minh kinh tế trồng lúa nước. Nói về cây nêu lễ hội này - được thấy không chỉ ở Việt Trì và Lâm Thao mà còn có mặt ở nhiều huyện khác, nhiều vùng lễ hội khác - chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng cây nêu lễ hội ở Phú Thọ là một cây tre dài được tạo thành Linga và Yôni - đây là cây cột tượng hình âm dương của nghi lễ phồn thực, hoàn toàn không thể giải thích bằng Phật thoại, hoàn toàn xa lạ với đạo Phật.

Cùng với cây nêu Linga này là các nghi lễ mật trong tục thờ cúng sinh thực khí ở miếu Dâm, thôn Cẩm Đội, xã Thụy Vân và cả ở một điểm vùng phụ cận núi Hùng là xã Tứ Xã (Lâm Thao). Đây là những lễ nghi của nghề trồng trọt trong xã hội cổ đại ở nhiều nước trên thế giới và thường đi với nam nữ tính giao.

Cũng theo truyền thuyết, Hùng Vương đi săn ở vùng phụ cận kinh đô, các quan lang và Mỵ Nương đi theo, săn bằng chó, lao, nỏ và lưới, về với lễ hội làng Phù Lỗ ở vùng giáp ranh Khu di tích Đền Hùng, ta được thấy có dấu tích của lễ nghi săn bắt. Mỗi giáp đưa một con lợn ra bãi cầu, các trai tráng người chặt vầu, người ngả nứa để luộc lòng lợn và đan mâm bày thịt, lễ vật có xôi nén ống tre, bánh ót (tò te) và thịt nướng. Trên các cành cây quanh bãi cầu, mỗi giáp treo một con lợn có phủ lưới giấy đỏ tượng trưng thú săn được. Ăn xong, chủ tế ra lệnh cho mọi người cướp lưới giấy và khiêng lợn về, các mảnh lưới giấy được dán vào nỏ, lao và lưới săn ở nhà. Rõ ràng đây là hình thức nghi lễ của những người săn bắt thời cổ còn bảo lưu được.

Cùng với lễ hội Việt Trì, Lâm Thao và một phần huyện Tam Nông, ta còn được thấy hình thức nguyên thủy của lệ hay tục ẩm thực thời cổ. Đó là cỗ bày trên lá hay trên rổ đan bằng dây rừng lót lá, cơm là cơm lam rượu là rượu mộng. Không ở đâu khác hơn là ở Phú Thọ mà chủ yếu là Việt Trì, Lâm Thao còn bảo lưu được tục này lâu dài tới trước Cách mạng tháng Tám.

Từ ngã ba Bạch Hạc tới Đền Hùng và vùng phụ cận là khu vực tập trung đậm đặc nhất ở Phú Thọ về truyền thuyết và lễ hội, là xạ ảnh của thời kỳ lịch sử Hoàng Vương, phản ánh trung thực hình thái xã hội của nước Văn Lang cổ đại. Điều quan trọng là chỉ ở Việt Trì mới có những chuyện về sự phân bố các khu vực của một đô thành như: nơi cày cấy ruộng công, kho lương, nơi nô bộc giã gạo công, trại lính, các cung điện...

Xem lại một số thần tích soạn vào các thời Lê Hồng Đức, Lê Hồng Phúc và Lê Cảnh Hưng, như thần tích bà Năng Thị Tiêu, Thần nữ được thờ ở Tây Thiên và 6 xã thuộc huyện Tam Đảo, sự tích các tướng nhà Hùng tham gia đánh Thục v.v... và ngọc phả Hùng Vương, ta lại càng thấy thần tích và ngọc phả đã khẳng định truyền thuyết như thế nào.

Bản ngọc phả Hùng Vương soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572) chép: “Ngàn núi cúi chầu về, vạn sông quy tụ về, thảy đều quy chầu về Nghĩa Lĩnh. Nhìn khắp hình thế núi sông, Vương nhận ra đất này là đất tốt, bèn lập chính điện ở núi Nghĩa Lĩnh và thường ngự giá ở đó. Ngoại vi Nghĩa Lĩnh lập đô thành Phong Châu.

Từ núi Nghĩa Lĩnh tới huyện Phù Khang, Lâu Thượng, Lâu Hạ, Thanh Miếu, Bạch Hạc xã, Việt Trì thôn, chính là nơi đô thành cũ Vương lập nước, đặt quốc hiệu là Văn Lang”. Lại chép: “Đương thời Hùng Vương có sửa sang lại cung điện đền đài từ Nghĩa Lĩnh đền Phù Khang, Bạch Hạc, Việt Trì, Lâu Thượng, Lâu Hạ, phạm vi địa giới xây hơn 50 lâu đài doanh sở. Vương lập các đệ tử, vương tôn, cung phi đều ở nơi đất này”.

Như vậy là trước chúng ta 500 năm, vấn đề thủ đô Văn Lang đã được khẳng định.

                                                   N.K.X


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác bồi dưỡng đạo đức nhà giáo hiện nay
Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Phú Thọ làm theo lời Bác!
Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phan Đinh: Gia tài lớn nhất đời tôi là những tấm ảnh Bác Hồ
Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ với cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Trường Tiểu học thị trấn Thanh Ba học tập và làm theo gương Bác
50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nghĩ về 5 lời thề
Bí thư Đoàn năng động
Tuổi trẻ huyện Lâm Thao học tập và làm theo lời Bác
HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.