NỘI DUNG CHI TIẾT
NGƯỜI CHIẾN SỸ TÌNH NGUYỆN CAO XUÂN THÌN VỚI NHỮNG KỶ NIỆM HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG TẠI LÀO
11/29/2012

 

Th.s Cao Văn Thịnh

     Năm 1948, tôi đóng quân trên đất Phú Thọ, thuộc Đại đội 668, Liên khu 10, được lệnh cấp trên hành quân lên Tây Bắc. Tới biên giới Việt - Lào, chúng tôi nhận nhiệm vụ sang Lào giúp bạn trong liên minh chiến đấu chống kẻ thù là thực dân Pháp xâm lược.

Chúng tôi sang Lào với tư cách là cố vấn, có nhiệm vụ vận động nhân dân Lào, thành lập các đơn vị vũ trang đánh Pháp, tiến tới thành lập quân giải phóng Lào. Lúc đó quân đội ta mới được xây dựng nên còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, trang bị vũ khí thô sơ. Dân ta và dân Lào còn đói khổ, trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt lại càng khó khăn, vất vả. Chúng tôi chưa nói được tiếng các dân tộc Lào, nên vừa công tác vừa học nói tiếng, thực hiện giao tiếp với nhân dân Lào.

Cách mạng Lào chưa có vùng giải phóng, bọn thổ phỉ hoạt động mạnh. Hôm đầu mới qua biên giới, anh Nhân đồng đội của tôi đã bị trúng đạn của bọn thổ phỉ. Anh hy sinh làm tôi rất buồn lo, trên đường hành quân tôi luôn nhớ tới người đồng đội của mình vừa nằm lại giữa núi rừng. Sự hy sinh của anh Nhân, nhắc nhở tôi phải cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu.

Chúng tôi mới sang Lào, chưa có cơ sở cách mạng trong các bản. Dân Lào chưa có nhận thức gì về cách mạng, chưa biết gì về người cán bộ và bộ đội Việt Nam. Bọn phản động người Lào, tuyên truyền xuyên tạc làm dân chưa tin. Chúng treo giải rất cao cho người nào giết được bộ đội Việt Nam và bộ đội Lào ítxalạ. Trong hoàn cảnh đó, chúng tôi có thể chết vì đói, chết vì bọn phản động lùng sục, bắt bớ và chết bởi những người bị chúng mua chuộc.

Sang Lào một thời gian ngắn, chúng tôi đã nói thành thạo tiếng Lào địa phương. Chúng tôi gây cơ sở cách mạng trong các bản. Sự tuyên truyền của chúng tôi làm cho người dân Lào hiểu rõ về Chính phủ kháng chiến Lào, về Mặt trận dân tộc thống nhất Neo Lào ítxalạ, về Hoàng thân Xuphanuvông, về Chủ tịch Hồ Chí Minh, về tương lai của người Lào, về liên minh Việt Nam - Lào - Miên đoàn kết, quyết tâm kháng chiến chống Pháp xâm lược. Chúng tôi tổ chức các đơn vị vũ trang, xây dựng các tổ chức quần chúng trong các bản. Chúng tôi được mọi người yêu mến, tin tưởng, chở che. Nhưng vì còn thiếu kinh nghiệm, chúng tôi không lường hết được những khó khăn, trắc trở do bọn thực dân Pháp cấu kết với bọn phản động gây nên.

Năm 1951, một lần anh Lê Lai, người đồng chí thân thiết trong đơn vị của tôi chỉ huy tổ công tác bốn người bị bọn phản động tập kích. Vào một buổi sáng, tổ đang họp bàn kế hoạch đánh địch, tại một túp lều trong một khu rừng gần bản Busơ. Lực lượng của địch gồm một đại đội, trang bị vũ khí đầy đủ, chúng bò vào cách tổ công tác khoảng 6m, 7m anh em ta mới biết. Địch nổ súng, mấy đồng chí bị trúng đạn, anh Lai lăn ra ngoài bị bọn chúng bắt sống. Chúng giải anh Lai ra bờ sông Mê Kông, biết anh Lai là bộ đội Việt Nam chúng đã chém anh Lai một nhát vào cổ và hất xác xuống sông. Mấy ngày hôm sau, những người dân bản báo cho chúng tôi biết bọn địch đã giết hết tổ công tác, xác đồng chí Lai bị giặc ném xuống dòng sông Mê Kông.

Từ thất bại đau đớn đó, chúng tôi đã rút kinh nghiệm trong hoạt động thận trọng hơn. Tôi ở chòi cùng dân, cùng làm nương rẫy và có đi công tác bản phải cắt cử người bảo vệ. Mọi sự giao tiếp với dân luôn được cảnh giác, đề phòng. Chiến trường càng ác liệt, chúng tôi phải chia ra các tổ nhỏ để hoạt động. Nhiệm vụ chính của chúng tôi làm công tác tổ chức, huấn luyện bộ đội Lào ítxalạ. Đời sống của chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào nhân dân. Dân no chúng tôi được no, dân đói chúng tôi phải chịu đói.

Những ngày đó, tôi luôn thương nhớ anh Lai đã hy sinh. Anh Lai quê ở Duy Tiên, Hà Nam, tham gia cách mạng tại Lào từ năm 1945, trong những ngày cách mạng Lào còn đang thời kỳ khó khăn nhất. Năm 1949, tôi được sống gần anh và cùng về Mường Sỉnh công tác. Anh biết tiếng dân tộc Co, tôi biết tiếng H’mông nên cấp trên phân công đi làm công tác dân vận và xây dựng lực lượng võ trang. Nhiều khi đi công tác cơ sở chỉ có hai anh em. Có lần tôi bị cây nứa xọc vào chân, chân sưng lên, không đi được phải nhờ những người dân Lào đã tìm lá thuốc rịt vào mới khỏi. Một lần bị rết cắn, chân sưng vù, mưng mủ tưởng không chữa khỏi, người dân Lào thấy vậy đã giúp tôi, bằng cách lấy dao rạch vết thương ra và lấy ống nứa tép, ngậm vào miệng lấy hơi hút hết máu mủ ra và tìm lá cây rịt lại. Mấy ngày sau chân tôi xiu khô và khỏi, tiếp tục đi lại được. Anh Lai đã một lần bị thương vào tay trái trong một trận tập kích bọn thổ phỉ ở bản Hồi Thu. Hai anh em đi công tác nhiều khi phải nhịn đói giữa rừng. Một lần đói quá phải ăn măng sống, trong rừng sương mù dày đặc, trời tối như bưng, chờ khi trời hửng mới tìm được đường ra.

Gian khổ, hy sinh thế, chúng tôi không hề nao núng. Quyết tâm bám trụ chiến trường, làm tốt công tác dân vận, hoàn thành nhiệm vụ được giao, xây dựng cho bộ đội Lào ítxalạ những đơn vị vững mạnh, có thể đánh địch, mở ra vùng giải phóng, phối hợp với các đơn vị tình nguyện Việt Nam tác chiến có hiệu quả. Đầu năm 1953, tôi làm Huyện ủy viên Mường Sỉnh, thuộc tỉnh Luông Nậm Thà, phụ trách một đại đội chủ lực của huyện. Bọn phản động coi tôi là nhân vật quan trọng, chuyên gia số một xây dựng các lực lượng võ trang của cộng sản. Chúng thuê người giết lấy đầu tôi với giải thưởng nhiều tiền và vàng, chúng cho quân lùng sục rất gắt gao, nhằm vây bắt tôi. Nhưng tôi được những người dân bản Lào báo trước những trận phục kích, che giấu, bảo vệ tôi một cách chu đáo nên tôi vẫn được an toàn hoạt động trên đất Mường Sỉnh.

Thời kỳ 1953 - 1954, cách mạng Việt Nam và Lào đã thu được những thắng lợi to lớn. Chiến thắng Điện Biên Phủ buộc thực dân Pháp phải ký kết Hiệp định Giơnevơ. Nước Pháp và các nước tham gia Hội nghị cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia. Sau Hiệp định Giơnevơ, cách mạng hai nước Việt Nam, Lào bước vào thời kỳ mới: thời kỳ tập trung lực lượng, đẩy mạnh đấu tranh để giữ vững hòa bình giành độc lập và thống nhất ở mỗi nước. Song đế quốc Mỹ vẫn nuôi tham vọng xâm lược, ra sức can thiệp vào miền Nam Việt Nam và Lào, âm mưu biến Đông Dương thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự, để làm bàn đạp tấn công các nước xã hội chủ nghĩa.

Những năm này, tôi phải hoạt động bí mật, để tóc dài, kết tóc như một người đàn ông dân tộc Co. Bọn phản động truy lùng, tìm diệt người cách mạng; có một lần chúng bắt được thanh niên người Co dẫn đường chỉ điểm. Người thanh niên đó biết nơi chúng tôi đang ở, đã không chỉ, chúng đánh người thanh niên ấy rất dã man, nhưng anh vẫn kiên quyết không khai. Nhờ thế chúng tôi mới an toàn, những cơ sở của cách mạng do chúng tôi gây dựng được củng cố và phát triển.

Trong thời gian này, tại Lào, Đảng Nhân dân Lào ra đời, đã bầu đồng chí Cay Xỏn Phômvihẳn làm Trưởng ban chỉ đạo. Đầu năm 1956, ủy ban Trung ương Neo Lào ítxalạ đã tiến hành Đại hội đại biểu lần II, đổi tên Neo Lào ítxala thành Neo Lào Hắcxạt, bầu Hoàng thân Xuphanuvông làm Chủ tịch. Cách mạng Lào đã có những bước chuyển tích cực, lực lượng yêu nước Lào lớn mạnh liên tiếp đánh bại các cuộc tiến công lấn chiếm của các thế lực phái hữu vào vùng căn cứ cách mạng, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Dẫn đến ngày 21/1/1957, Hoàng thân Xuphanuvông, đại diện Neo Lào Hắcxạt và Hoàng thân Xuvana Phuma, đại diện Chính phủ Vương quốc Lào ký tuyên bố chung thành lập Chính phủ Liên hiệp, có thành phần Neo Lào Hắcxạt tham gia.

Cách mạng Lào trên đà thắng lợi, mùa thu năm 1957, cấp trên cho tôi trở về nước học tập. Thế là đã hơn chín năm tôi công tác tại nước Lào anh em. Năm tôi sang Lào mới 21 tuổi, về nước tôi đã vào tuổi 30. Như thế là tuổi hai mươi của tôi đã dành cho cách mạng Lào. Về làng tôi xây dựng gia đình và tiếp tục học văn hóa ở Trường Bổ túc văn hóa miền núi. Chính tại trường này, tôi gặp lại anh Lê Lai, người đồng chí của tôi đã bị bọn phản động chém cách đây gần bảy năm, tôi đinh ninh rằng anh đã chết. Gặp anh Lai, tôi sững sờ như người trong mơ, chẳng nói nên lời. Anh Lai ôm lấy tôi và kêu lên: “Lai đây mà, thật mà, chính là người bị bọn phản động chém chết quẳng xuống sông Mê Kông đây!” Tôi không nói nên lời vì bất ngờ, lạ lùng quá mức, nước mắt tràn ra, mãi sau mới nói: “Thật Lai à? Lai còn sống thật à”. Lai chìa cổ cho tôi xem, tôi hết nắn lại xoa vào vết thương, mừng không tả xiết.

Sau đó, anh Lai kể lại tôi mới được biết, khi bị bọn giặc chém, chết lịm đi, chúng ném xác xuống sông Mê Kông. Vì là người biết bơi nên thân người nổi lên, do chưa chết hẳn nên tay chân còn quờ quặp vào một thân cây chuối đang trôi xuôi. Người và cây chuối cùng nổi trôi lập lờ trên sông. Mấy ngày đó trời mưa người Lào không đi lại nên không ai nhìn thấy. Nước sông mát, vết thương chúng chém sâu vào cổ nhưng chỉ vào phần mềm, chưa đứt cuống họng và động mạch chủ nên người còn sống. May sao khi nước chảy đã đưa Lai vào một tảng đá, có những cây chành chành mọc bao quanh. Chính những cây chành chành đó đã giữ người lại và nước chảy cuốn người nằm trên mặt tảng đá nhô lên trên mặt nước. Khi tỉnh dậy, khát khô cổ, vết thương đã có mùi thối ròi bọ đã sinh ra bò cả ra mặt. Mình cũng không kêu được, cứ nằm đấy, muốn uống nước nhưng không sao chuyển người được. May quá có một người dân Lào đi đánh cá, thấy người còn thở đưa về trạm giao liên của ta cứu chữa. Khi đó đoàn công tác của ta vừa đến trạm, có bác sỹ, y sỹ, y tá mang theo một số cơ số thuốc cần thiết đã dốc lòng cứu chữa, nên Lai còn sống tìm đường về căn cứ hoạt động.

Học xong, năm 1958  tôi và anh Lai lại trở lại Lào công tác. Tôi tiếp tục trở về Luông Nậm Thà. Anh Lai về Luông Pha Băng và sau đi công tác tại Sầm Nưa. Năm 1960, anh Lai trở về nước và chuyển ngành sang làm ở Ty Nông nghiệp Phú Thọ. Năm về công tác tại tỉnh anh Lai xây dựng gia đình với cô Nguyễn Thị Lộc người Thanh Hà, Thanh Ba, Phú Thọ. Năm 1965, anh Lai thấy mình sức khỏe yếu vì bệnh tật và vết thương tái phát anh xin về nghỉ mất sức và làm nhà sinh sống tại quê vợ.

ở với nhân dân Lào, tôi còn có nhiều kỷ niệm không thể kể hết được. Đặc biệt là kỷ niệm về đứa con nuôi của tôi. Năm 1949, khi đơn vị tôi đánh vào thị trấn Luông Nậm Thà, tôi đã bắt gặp một cháu trai, khoảng 3 tuổi ngồi bên cạnh nhiều xác chết do quân Bun Lèm tàn sát. Lúc đó tôi đã hai mươi ba tuổi, nhận cháu làm con nuôi. Tôi đã trực tiếp chăm chút cho cháu như một người cha thân thiết. Lo cho cháu ăn, mặc ấm, ngày đi công tác thì tôi gửi những người dân bản chăm sóc, ngày về cháu quấn quýt với anh em bộ đội như những người thân yêu. Chúng tôi dạy cháu nói tiếng Việt và tiếng Lào, tôi còn nhờ người dân Lào đặt tên Lào cho cháu. Người Lào đặt tên cho cháu là Khăm Kẹo, còn tôi và anh em thì gọi cháu là Kính Kẹo. Chúng tôi là bộ đội phải đi công tác vào vùng địch hậu, những lần đó, chúng tôi phải nhờ dân bản nuôi hộ nhiều ngày, về thì chúng tôi xin lại. Năm 1954, cháu đã lên tám tuổi cần phải đi học. Nhân có đoàn cán bộ Việt Nam sang Lào công tác, sau đó về nước, chúng tôi gửi Khăm Kẹo về Việt Nam để học tập văn hóa. Cháu chóng lớn, đi bộ nhanh, có thể theo đoàn về Việt Nam. Chúng tôi tạm biệt cháu vào một ngày xuân, cháu không khóc chỉ có chúng tôi là không cầm được nước mắt vì phải xa cháu. Chúng tôi đinh ninh rằng cách mạng Lào sẽ toàn thắng và chúng tôi sẽ được về nước. Cha con tôi sẽ được gặp nhau, trong hoàn cảnh tươi đẹp. Cháu Khăm Kẹo được học hành đến nơi đến chốn, trưởng thành trở về xây dựng quê hương nước Lào tươi đẹp của mình.

Khi tôi trở về nước học tập đã đi tìm cháu và gặp cháu học ở Nam Định. Tôi vào trường học thì gặp cháu, Khăm Kẹo nhận ra tôi, chạy lại ôm lấy tôi khóc òa. Tôi ôm lấy cháu cũng khóc vì cha con lâu ngày xa nhau, mừng vui không nói nên  lời. Tôi ở lại chơi với cháu, được biết cháu thông minh, học tập giỏi, ngoan ngoãn, vâng lời thầy cô, luôn phấn đấu vươn lên để tiến bộ. Cháu luôn luôn đạt danh hiệu học sinh giỏi, được nêu tên trên bảng vàng danh dự của lớp, của trường. Một thời gian học ở Nam Định, cháu được nhà trường chuyển lên học tập tại một trường miền núi dành cho học sinh Lào ở Nhã Nam, Bắc Giang.

Năm 1958, tôi lại trở lại Lào, về Luông Nậm Thà giúp các bạn Lào thành lập các trường học và tuyển các con em người Lào đưa sang Việt Nam học tập tại các trường học Việt Nam, đào tạo họ trở thành những con người có văn hóa, khoa học, kỹ thuật về xây dựng đất nước Lào.

Người con nuôi của tôi là Khăm Kẹo đã học hết chương trình đại học ở Việt Nam. Năm 1969, Khăm Kẹo đã trở về nước công tác tại Sầm Nưa. Khăm Kẹo làm công tác tốt, có uy tín, trở thành cán bộ xuất sắc của Lào. Năm 1975, cách mạng Lào thành công, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào được thành lập. Khăm Kẹo trở về Viên Chăn công tác tại Bộ Giáo dục Lào, ở Thủ đô Viên Chăn.

Từ năm 1962  đến năm 1968, tôi công tác tại Ban cán sự miền Tây, thường xuyên trở lại đất nước Lào công tác. Mặc dù đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đánh phá cách mạng rất tàn bạo, nhưng cách mạng Lào vẫn phát triển không ngừng, vùng giải phóng Lào được giữ vững. Đảng nhân dân cách mạng Lào, Mặt trận Neo Lào Hắcxạt, quân đội Pathét Lào ngày càng có uy tín với nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế. Chúng tôi những chiến sỹ quân tình nguyện Việt Nam luôn khắc ghi lời Hồ Chủ tịch dạy: “Giúp bạn là tự giúp mình” nên cố gắng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

                                 C.V.T


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.