NỘI DUNG CHI TIẾT
Mấy nhân vật lịch sử Đại Việt trong thơ Hà Nhậm Đại (*)
10/11/2022

 

                                                                                                                       GS. TS. TRƯƠNG SỸ HÙNG

Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Minh Triết

             Hà Nhậm Đại (1525-? ), hiệu Hoằng Phủ, người xã Bình Sơn, huyện Lập Thạch (nay thuộc thôn Sơn Cầu, thị trấn Tam Sơn, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc). Sinh trưởng vào khoảng giữa thế kỹ XVI, Hà Nhậm Đại đã thi đỗ học vị tiến sĩ năm 1574, được chính quyền đương thời bổ nhiệm làm thượng thư thời nhà Mạc. Song hành với đời sống quan chức, Hà Nhậm Đại còn là một nhà thơ nổi tiếng với tác phẩm Lê triều khiếu vịnh thi tập – theo lối thơ vịnh sử -  ca ngợi và thể hiện cách đánh giá nhân vật lịch sử, theo chủ quan cá nhân về các danh nhân, từ Lê Thái Tổ đến Lê Cung đế.

           Tài liệu cũ không cho phép xác định được năm mất của Hà Nhậm Đại, nhưng niên lịch ghi ở cuối bài tựa tập thơ là 1590 - vậy năm ấy nhà thơ 65 tuổi. Chắc chắn rằng, thơ văn Hà Nhậm Đại còn nhiều tác phẩm bị mất hiện không tìm được, bởi106 bài thơ thất ngôn, tuyệt cú, mỗi bài vịnh một nhân vật trong Lê triều khiếu vịnh thi tập Hà Nhậm Đại chỉ “nêu những sự tích triều Lê đáng để khuyên răn” và tác giả chủ ý “nối tiếp thể vịnh sử của Đặng Minh Khiêm, nhằm giáo huấn người đời theo đạo đức chính thống”. Tự hào về những anh hùng hào kiệt trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, về các nhà văn hoá, các nhà kinh bang tế thế có công dựng nước, an dân, các sứ thần lĩnh trọng trách ngoại giao làm sang danh quốc thể, góp phần giữ vững độc lập chủ quyền đất nước. Làm quan cho nhà Mạc, nhưng Hà Nhậm Đại không làm thơ ca ngợi những thế lực đương triều. Ông trở về với đề tài lịch sử vẻ vang của cả triều đại nhà Lê.

            Từ nửa sau thế kỷ XV vua Lê Thánh Tông (1442 - 1497) đã coi trọng giáo dục đào tạo nhân tài cho đất nước, một lòng một dạ với sự nghiệp kiến thiết xây dựng đất nước phồn thịnh. Đại Việt thanh bình phát triển toàn diện, hưng thịnh nhất và đạt đến đỉnh cao trong đời sống kinh tế, văn hóa xã hội. Thời Lê sơ, nhà vua thi sĩ Lê Thánh Tông đã tuyển dụng nhân tài, sử dụng nhân tài hết sức mềm dẻo và khéo léo, khiến nhiều nhân sĩ trí thức có cơ hội được trổ tài kinh bang tế thế, hết lòng hết sức phấn đấu cho sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh thịnh vượng. Tham chính trong  bộ máy chính quyền Quang Thuận (1460 - 1469) và Hồng Đức (1470 - 1497), Thân Nhân Trung (1419 - 1499); tác giả câu danh ngôn: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, đã hưởngng tích cc vic đề cao vic giáo dc đào to ca nhà vua, đề ra nhim vcthca ksĩ đối vi đất nước. Thân Nhân Trung cho rng: Trnước càng thnh vượng lòng càng phi thn trng, càng phi lo cho dân, chăm chchính shàng ngày nơm np lo lng. Ngườingôi cao phi luôn ghi nhớ. Đương thi, vua Lê Thánh Tông làm Đô Nguyên suý trong hi Tao Đàn; Thân Nhân Trung làm Phó Đô Nguyên suý cũng nói điu tâm đắc ca mình.

        Tinh thần yêu nước là tư tưởng xuyên suốt sự nghiệp và thơ văn Thân Nhân Trung, kể cả trong trong lúc vua tôi ngâm vịnh thù tạc. Lúc nào và ở đâu Thân Nhân Trung vẫn thể hiện một tình thương sâu sắc với nhân dân lao động, một ý thức trách nhiệm cao với vị trí mổ quan chức có tâm có đạo. Với tư cách là một nhà khoa bảng, Thân Nhân Trung cũng là một tấm gương sáng về tinh thần hiếu học. Hai người con của ông là Thân Nhân Tín, Thân Nhân Vũ và cháu nội Thân Cảnh Vân đều noi gương ông, gắng công học tập và đều đỗ đại khoa trong các kỳ thi của triều Lê. Hà Nhậm Đại có bài thơ vịnh Thân Nhân Trung:

            Thiên tương hiền tá vị thời sinh

            Độc thiện Tao đàn đệ nhất danh 

            Đương thế văn chương chân đại thủ          

                  

            Nhất môn phụ tử bội ân vinh.

             Chúng tôi tạm dịch:

            Trời sinh ra bậc hiền tài

          Bảng tên giỏi nhất xứng vai tao đàn

           Văn chương thời ấy ai hơn

           Cha con hiển đạt nhờ ơn thấm nhuần.

         Lương Đắc Bằng (1472 - 1522), người làng Hội Trào (nay thuộc xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hóa), lúc nhỏ nổi tiếng là người hay chữ, đỗ bảng nhãn năm Kỷ Mùi 1499. Quan chức được thăng Tả Thị Lang bộ Lễ, và Lại bộ Thượng thư, kiêm Đông Các Đại hc sĩ, tước Đôn Trung bá, từ thời Lê Hiến Tông (1497 - 1504) đến Lê Tương Dực (1510 - 1516). Năm 1510, ông thảo hịch Trị bình thập tứ sách gồm 14 đề mục chính để giúp vua cai trị và tạo thái bình không được, ông khởi binh đánh đổ ngôi vua, đưa Lê Tương Dực lên ngôi. Nhưng tình hình càng rối ren hơn.

        Là một đại thần tính cương trực, khinh ghét những kẻ lập bè phái, được vua và quan chức trong triều và hầu hết dân chúng đều kính trọng. Được cử đi sứ Trung Hoa, ông luôn làm tròn sứ mệnh ngoại giao. Song, triều đại nhà Lê đã đến lúc suy vong, dù ông có đem hết tâm sức ra giúp nước cũng không thể cứu vãn được tình thế.”... Thời bấy giờ vua thì hoang chơi, triều thần thì tuy là có bọn ông Nguyễn Văn Lang, ông Lê Tung, ông Lương Đắc Bằng, v.v... nhưng người thì già chết, người thì xin thôi quan về. Vả cũng không có ai là người có thể ngăn giữ được vua và kinh doanh được việc nước, cho nên trong nước giặc giã nổi lên khắp cả mọi nơi” (1).

          Trị bình thập tứ sách được vua khen ngi nhưng không thi hành. Lương Đắc Bng cáo quan vquê dy hc và nghiên cu Kinh dịch. Tương truyền trong một dịp đi sứ, ông kiếm được sách Thái Ất thần kinh mang về. Bản tính thanh liêm và trọng đạo đức, dù làm quan lớn mà gia cảnh vẫn nghèo, con phải đi cày cấy, gặt thuê kiếm sống. Thấy học trò Nguyễn Bỉnh Khiêm tính tình khoáng đạt thông tường lý số, thầy Lương Đắc Bằng  truyền dạy hết sức và tặng sách Thái Ất thần kinh. Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ Trạng nguyên, làm quan đến chức Lại bộ Thượng thư nhà Mạc, tước Trình Quốc Công, người đời thường gọi là Trạng Trình; ông lấy cảm hứng từ sách ấy mà sáng tạo Sấm Trạng Trình: tiên đoán việc đời trước, sau mấy trăm năm. Hà Nhậm Đại có thơ vịnh:

            Thanh thời cập đệ thế vinh quan                 

            Luận gián trung ngôn bính nhược đan

           Trấp tứ sách vô tòng nhất sách    

          Đương thời vật quái trị bình an

         Chúng tôi tạm dịch:

          Vinh hiển sao, thi đậu thời bình

           Tôi trung can gián tm lòng son

           Hai bốn lời tâu không được một

          Trị bình chẳng được lại khóc than!

          Trần Nguyên Hãn (1390 - 1429), võ tướng thời khởi nghĩa Lam Sơn, người có nhiều đóng góp trong sự nghiệp đánh thắng giặc Minh; phần viết về tiểu sử và những nhận định chủ quan thể hiện rõ sự quan tâm đặc biệt của tác giả triu khiếu vnh thi tp đến người đồng hương. Hà Nhm Đại viết: “Ông người huyn Lp Thch, dòng dõi vương Trn Hưng Đạo. Ông hc binh pháp tinh thông, thy quân Minh sang xâm lược nước Nam, thường có ý cu dân. đêm ông đến cu đảo ở đền Bch Hc, thy vthn núi Tn Viên báo cho vthn Bch Hc rng: “- Đấng thượng đế đã hi hp, c Li người Lam Sơn làm vua nước An Nam, vì thế ông tìm vào Thanh Hóa cùng Thái Tổ mưu toan khởi binh. Hãn đem quân và voi đánh Tân Bình, Thuận Hóa, sau đó lãnh một đạo binh đánh Nghệ An, vây thành sông Mã, cắt đứt đường tiếp lương, đánh tan quân thủy của địch. Nói chung Hãn phần nhiều lập công trong khi đánh dẹp các thành. Ông nhất trí với vua Lê Thái Tổ lập Trần Cảo để thỏa mãn lòng mong muốn của dân. Thái Tổ cử Hãn làm chức đại tư đồ tướng quốc. Trước khi giặc rút về nước, ngày làm lễ tuyên thệ, Hãn là một người trong đó. Đến khi Thái Tổ lên ngôi, Trần Cảo bị giết, Hãn rất bất bình, bèn xin về hưu. Thái Tổ đồng ý cho ông nghỉ việc, hàng năm hai lần vào triều bái yết mừng vua. Hãn về nhà dốc sức vào việc xây dựng nhà cửa, dùng gạch hoa và đóng chiến thuyền, đánh khí giới, có người đem tình hình ấy báo với nhà vua, rằng Hãn định mưu làm phản. Nhà vua sai sứ thần đến xét hỏi và triệu Hãn về. Hãn đi đến bến đò Đông Sơn Hạ, khấn trời rằng: “- Thần với Lê Lợi cùng mưu cứu dân, nay đại nghĩa đã định, mà vua thì muốn giết thần, xin soi xét cho”. Vừa khấn xong bỗng nổi cơn gió lớn lật đắm thuyền, bốn mươi hai người lực sĩ và Hãn đều bị chết đuối. Nhà vua hạ chiếu xuống tịch thu ruộng nương tài sản và vợ con của Hãn, đến năm Mậu Dần, niên hiệu Diên Ninh mới được trả lại. Hãn khi chết hiển linh, nhân dân lập đền thờ cúng(2). Có lẽ những trang viết về hành trạng cuộc đời của Trần Nguyên Hãn là dài nhất, Hà Nhậm Đại đã rà soát kỹ chi tiết trong thư tịch để chiêu tuyết cho một đại công thần thời Lê xuất thân từ quê hương Vĩnh Phúc, hẳn là không một chút thiên vị. Bài thơ vịnh nhân thần Trần Nguyên Hãn, ông viết:

           Vương nghiệp kinh doanh dự thủy mưu

           Tọa giao bá Việt dữ bình Ngô                                  

          Long nhan tảo thức đồng ô trác                                

            Hà bất biên chu phiếm Ngũ Hồ                                 

            Chúng tôi tạm dịch:

             Nghiệp vua chung dựng ban sơ

             Hùng cường nước Việt, nước Ngô rã rời

             Mặt rồng tướng mỏ quạ hôi

              Thuyền không sao chẳng đi chơi Ngũ Hồ?

           Trịnh Khả người làng Kim Bôi, huyện Vĩnh Ninh (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa) là một tướng lĩnh tài ba thao lược. Năm 1416, Trịnh Khả tìm đến với Lê Lợi cùng 19 người khác lập hội thề Lũng Nhai. Mồng 2 Tết Mậu Tuất - tức ngày 7/2/1418 - Lê Lợi tổ chức lễ tế cờ, tuyên thệ mở đầu cuộc khởi nghĩa chống giặc Minh đô hộ. Ngày 14/2/1418, đô đốc Chu Quảng cầm đầu, từ thành Tây Đô tấn công vào thành Lam Sơn. Nghĩa quân Lam Sơn đã chiến đấu rất dũng cảm, nhưng không chống cự nổi, rút lui về Mường Một. Chúng ráo riết đuổi theo, Lê Lợi lại rút quân khỏi Mường Một, chốt lại tại Lạc Thủy ở thượng nguồn sông Chu. Lũ giặc vẫn hùng hổ kéo đến Lạc Thủy, định tiêu diệt lực lượng nghĩa quân. Tại đây Lê Lợi đã bố trí sẵn một “trận đồ bát quái” mai phục đón đánh. Giặc Minh tự dẫn xác đến, bị thua đau tan tác.

            Giặc Minh theo sự chỉ dẫn của hai tên Việt gian, kéo đến xứ Phật Hoàng, khai quật mộ của thân phụ Lê lợi, lấy tiểu đựng hài cốt mới cải táng; để trên thuyền lơ lửng giữa sông, canh gác thật cẩn thận và kêu gọi Lê Lợi ra hàng. Không nao núng trước dã tâm xâm lược ươn hèn của chúng, Lê Lợi liền “sai hai người là Trịnh Khả và Lê Bị, tức Bùi Bị đội nghi trang, bơi dọc theo sông đến bến Dao Xá Thượng, rình lúc giặc ngủ say, leo lên thuyền lấy được tiểu đựng hài cốt thân phụ đem về. Vua mừng rỡ, trọng thưởng cho cả hai người rồi rước tiểu đựng hài cốt ấy đem về xứ Phật Hoàng, táng lại như cũ”(3).

          Mưu trả thù không thành, giặc Minh liền đánh vào Lam Sơn lần thứ hai, khiến quân tổn thất nặng nề. Vợ con và nhiều người trong gia quyến của Lê Lợi bị bắt. Nhiều nghĩa sĩ đã hi sinh. Lê Lợi đưa toàn bộ lực lượng lên núi Chí Linh, tìm  người giỏi thuyết phục Ai Lao ủng hộ. Trịnh Khả là người có biệt tài ứng đối, thông thạo tiếng Lào, nắm vững đường sang nước bạn, Lê Lợi cử ông làm sứ giả. Triều đình Ai Lao đồng ý giúp Lam Sơn một số quân và voi chiến, khí giới... cộng với năm tháng lương ăn. Như vậy, Trịnh Khả đã góp phần quan trọng vào việc phục hồi sức lực cho nghĩa quân Lam Sơn. Tháng 10 năm 1424, Lê Lợi cho quân ồ ạt tấn công vào Nghệ An. Trịnh Khả là một trong những tướng lĩnh có may mắn được cầm quân tham gia cuộc tấn công.

        Ông trc tiếp đánh nhau giáp vi gic “đến my mươi trn ln nhỏ” (4) trn nào ông cũng là ngườixung phong lên hãm gic, lp công to(5). Li đánh giá cao khnăng đa tài ca Trnh Khải.       Tuy chỉ vỏn vẹn có hơn 3.000 quân và một thớt voi, nhưng đạo quân thứ nhất đạo do Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Lý Triện và Đỗ Bí chỉ huy đã lập được nhiều chiến công xuất sắc. Chỉ trong một tháng, đạo quân này đã đánh thắng ba trận lớn: Ninh Kiều tháng 9 năm 1426. Nhân Mục tháng 10 năm 1426 và trận Xa Lộc - còn có tên gọi Đồng Rọc - tháng 10 năm 1426. Trnh Kh tướng chhuy hai trong sba trn, đó trn Ninh Kiu và trn Xa Lc. Ở trn Ninh Kiu, tướng Phm Văn Xo la gic vào trn địa, còn các tướng Trnh Khả, Trin và Đỗ chhuy phc binh, bt ngờ đánh cho Trần Trí thua trn, giết ti chhơn 2.000 tên. Tướng Trn Trí ht hong tháo chy về Đông Quan. Ngay sau trn thng ln này, Ninh Kiu được nhanh chóng xây dng thành mt khu căn crt li hi ca nghĩa quân Lam Sơn. Để thc hin nhim vquan trng thhai là sn sàng chn đánh vin binh ca gic đến bt clúc nào, các tướng chhuy đạo quân thnht đã chia quân làm hai bphn, đóng giữ ở hai địa đim khác nhau. Mt vẫn đóng ở Ninh Kiều, do các tướng Lý Triện và Đỗ Bí ̀m đầu. Bộ phận thứ hai tiến lên vùng Tam Giang (nay thuộc Bc Ninh), do Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả chỉ huy; và hai ông đã đánh thắng trận lớn thứ hai ở Xa Lộc tiêu dit vin binh gic do tướng Vương An Lão cm đầu. Sau trn Xa Lc, Phm Văn Xo và Trịnh Khả để li mt bphn nhỏ, tiếp tc bao vây uy hiếp thành, còn phn ln quân srút vNinh Kiu, chun bị ứng phó vi tình thế mi. Đạo quân thnht tuy đã thêm stiếpng ca các tướng Đinh L Nguyn Xí, nhưng gp tt cli, tướng sĩ Lam Sơn vn còn quá ít so vi tng quân sca gic. Kế sáchdng đon binh, đánh trường trnca các tướng Phm Văn Xo, Lý Trin, Đỗ , Đinh Lễ, Nguyn Xí... Trnh Khả đã góp phn quan trng vào vic phá vthế trn ca gic, đập tan mưu đồ cướp nước ca Vương Thông. Một trong những vị tướng chỉ huy xuất sắc của trận quyết chiến chiến lược Tốt Động - Chúc Động (1426) chính là Trịnh Khả. Quý Đôn xác nhn: “Lúc by giờ, ông - tức Trịnh Khả - cùng Văn Xảo, Triện, Bí và  Lễ... đều là danh tướng một thời, luôn đồng tâm hiệp lực khi thì bí mật bất ngờ, khi thì công khai đối mặt, ứng biến thật khôn lường, thừa cơ thật đúng lúc. Tất cả, nhanh như cắt, mạnh như tên, hễ đánh là thắng”(6).

             Tháng 10 năm 1427 Vương Thông bị vây hãm trong thành Đông Quan, nhà Minh sai Liễu Thăng và một loạt tướng lĩnh có tiếng đem 15 vạn quân tiến đánh Đại Việt. Một cánh quân nhỏ của nghĩa quân Lam Sơn được bố trí ở lại để tiếp tục bao vây, gọi hàng bọn giặc đang cố thủ trong thành. Phần lớn lực lượng tinh nhuệ đã và đang được huy động vào việc thực hiện hai nhiệm vụ cấp bách: đón đánh và tiêu diệt hai cánh quân viện binh nhà Minh; một đang vào ải Chi Lăng ở Lạng Sơn và tướng Mộc Thạnh dẫn 5 vạn quân hợp đồng tác chiến vào lối ải Lê Hoa ở Cao Bằng đang tiến vào Đại Việt.Hai tướng Trịnh Khả và Phạm Văn Xảo cầm quân chặn đánh. Liễu Thăng bị giết, cánh quân của Mộc Thạnh tiến vào nước ta qua ải Chi Lăng. Lê Lợi liền sai quân đem cờ biển, ấn tín của Liễu Thăng lên ải Lê Hoa để uy hiếp tinh thn gic. Mc Thnh hong hn tháo chy vnước. Tháng 12 năm 1426, Vương Thông buc phi cho quân rút khi nước ta. Năm 1428 Trịnh Khả được vua ban hàm Kim Tử Vinh Lộc Đại phu, Tả Lân Hộ vệ Tướng quân, được ban túi Kim Ngư và Ngân Phù, chức Thượng Khinh Xa Kỵ Đô úy. “Ông cùng Phạm Văn Xảo thừa thế phá tan giặc ở Lãnh Câu và Đan Xá, chém hơn 1 vạn tên, bắt sống được hơn 1 vạn tên, còn ngựa và các thứ quân trang khí giới thì nhiều không kể xiết” (7).

              Năm 1429, nhà Lê dựng biển khắc ghi tên tuổi của các khai quốc công thần, trong đó có Trịnh Khả được phong tước liệt hầu, chức đô thái giám, cai quản việc quân, kiêm giữ chức trấn thủ Tuyên Quang, sau  được thăng hành quân tổng quản xa chư quân sự, đồng tổng quản, trực tiếp coi các đội quân thiết đột. Năm 1434, ông xin nghỉ hưu không được, lại phải nhận chức trấn thủ Lạng Sơn, kiêm giữ đồng tổng quản vệ Nam Sách. Năm 1437 Lê Sát bị cách chức, bức tử, Trịnh Khả được gọi về triều, vua thăng hàm thiếu úy và giao quyền nắm giữ lực lượng quân thường trực của triều đình. Liên tục các năm ông được: 1442 nhận chức nhập nội tư mã. 1443 thăng tước quận Thượng Hầu. 1443 được clàm tướng tiên phong cm quân đánh thng Chiêm Thành được ban hàm nhp ni thiếu úy, kim hiu bình chương quân quc trng sự, thượng trquc và được thăng chc quc thượng hu.  

            Là người nghiêm nghị thẳng thắn và rất trung thành thanh liêm và tận tụy; nhưng cũng như không ít trung thần đương thời, Trịnh Khả chẳng khác gì cái gai trước mắt bọn tiểu nhân xu nịnh khi đất nước thanh bình. Năm 1451, có kẻ xấu phao tin ông và con trai Trịnh Quát âm mưu kết bè kết đảng mưu làm phản, thái hậu của Lê Nhân Tông đã xử tử cả hai cha con. Năm 1453, triều đình  minh oan cho ông và ban cho con cháu ông 100 mẫu ruộng hương hỏa. Trịnh Khả có tất cả 22 người con, gồm 13 con trai và 9 con gái. Trong số 13 người con trai này, sử cũ còn ghi lại được tên và chức tước của 10 người (8). Về nhân vật Trịnh Khả, Hà Nhậm Đại đề vịnh:

              Thân liên phế phủ quốc mưu đồng                                                       

             Mậu tán đương thời bát loạn công                 

             Lũy thế đệ huynh câu quý hiển                      

            Tử tôn để sự thế gia phong

            Bản dịch trong Tổng tập văn học Việt Nam:

           Tâm phúc tình thân lưu việc nước

           Công lao phò dit can qua

           Anh em quý hiển đời liên tiếp

            Con cháu cam tâm bỏ nếp nhà! (9)

 Đ          im xuyết my câu thơ ca các quan văn là thi Lê - Mc, Trnh như Nguyn Trãi, Thân Nhân Trung, Lương Đắc Bng, Nguyn Bnh Khiêm Phùng Khc Khoan; tìm hiu tài liu vhành trng cuc đời hai vtướng võ: Trn Nguyên Hãn do Hà Nhm Đại viết và Trnh Khdo Lê Quý Đôn viết - đặt cnh nhau để thy công phu nghiên cu thư tch và nhãn quan ca Hà Nhm Đại - khi viết thơ vnh sử. Thy rõ định hướng tìm hiu ca tác giả, Nhm Đại có thlướt qua phn tiu sca nhân vt được ông làm thơ vnh vi tùy tng nhân vt. Nhân vt nào đã được ssách các đời trước ghi chép kthì ông kim li, nhân vt nào ông thy hành trng cuc đời còn sơ sài thì ông gng tìm cho được tư liu trong dân gian và nhng ghi chép tn mn ri lp nên nhng trang mi có giá trkhoa hc. Đặc bit là tiêu chí nhân vt phi là đin hình cho mt tng lp, gii hng nht định, nhm tng kết thành mt bài hc có ý nghĩa giáo dc. Ông chn li thơ vnh snhư Đặng Minh Khiêm, dường như để bkhuyết vcác nhân vt lch sdân tc đã tng có snghip lưu danh hu thế. Dng li tìm hiu lai lch vua Lê Thánh Tông, Hà Nhm Đại khng định mong ước có mt chế độ vua sang, tôi hin, đời sng dân sinh nom. Song, tthái độ phê phán ssuy đồi phong tc tt đẹp ca dân tc Đại Vit tvua quan mt thi, Hà Nhm Đại viết trong bài Vịnh Đỗ Nhân:

            Gặp cơn triều chính nát như tương

             Tiếng nói trung thần đã vọng vang

             Tiếng thơm muôn thuở còn gương tỏ

           Con cháu truyền gia mạch thư hương.

            (Bản dịch Tổng tập văn học Việt Nam sách  đã dn)

                                                                       T.S.H

 

(1) Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Nxb Tân Việt, Sài Gòn, 1949.

(2) Lam Sơn thực lục, phong cho ông hàm thái giám. Tháng 9 năm 1426 một loạt tướng lĩnh Lam Sơn cùng với hơn 1 vạn nghĩa sĩ được lệnh hành quân ra Bắc, chia là ba đạo khác nhau, tiến sâu vào vùng bị quân Minh chiếm đóng, tìm cách uy hiếp sào huyệt lớn nhất của kẻ thù trong thành Đông Quan. Trịnh Khả cùng các tướng Phạm Văn Xảo, Lý Triện và Đỗ Bí, chỉ huy một trong số ba đạo quân đó. Đạo quân này có nhiệm vụ uy hiếp mặt nam của thành Đông Quan, sẵn sàng chặn đứng lực lượng viện binh của giặc, có thể sẽ tràn từ Vân Nam sang.

(3), (4), (5) (6,), (7), (8) Lê Quý Đôn, Đại Vit thông sử, Nxb. Khoa học xã hội, H, 1978.

(9) Bùi Duy Tân chủ biên, Tổng tập văn học Việt Nam, tập 5, Nxb Khoa học Xã hội, H, 2000.


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

Học tập Bác qua bài thơ “Nghe tiếng giã gạo” - trong tập thơ “Nhật ký trong tù”
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác bồi dưỡng đạo đức nhà giáo hiện nay
Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Phú Thọ làm theo lời Bác!
Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phan Đinh: Gia tài lớn nhất đời tôi là những tấm ảnh Bác Hồ
Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ với cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Trường Tiểu học thị trấn Thanh Ba học tập và làm theo gương Bác
50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nghĩ về 5 lời thề
Bí thư Đoàn năng động
Tuổi trẻ huyện Lâm Thao học tập và làm theo lời Bác
HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.