NỘI DUNG CHI TIẾT
Định vị Abdulrazak Gurnah và thế giới của ông
10/24/2022

  

 

 

                                                      EZEKIEL KIMANI KAIGAI

 

      “Cuộc sống của chúng ta không ngừng đan xen với truyện kể, với những câu chuyện mà chúng ta kể và nghe kể lại, những câu chuyện mà chúng ta mơ hoặc tưởng tượng hoặc muốn kể, tất cả đều được làm trong câu chuyện cuộc đời của chính chúng ta mà chúng ta tự thuật với chính mình trong một cuộc độc thoại nhiều tập, đôi khi theo cách nửa ý thức, nhưng hầu như không bị gián đoạn. Chúng ta sống đắm chìm trong truyện kể khi kể và đánh giá ý nghĩa của những hành động trong quá khứ của mình, dự đoán kết quả của các dự án tương lai của mình, tự đặt mình vào giao điểm của một số câu chuyện chưa hoàn thành. Sự thôi thúc kể truyện cũng lâu đời như nền văn học đời nhất của chúng ta; thần thoại và truyện cổ dường như là những câu truyện chúng ta kể lại để giải thích và tìm hiểu ở nơi không có hình thức giải thích nào khác hoạt động” (Peter Brooks).

 Quyền lực của những truyện kể

Khi nghiên cứu về các tiểu thuyết của nhà văn Abdulrazak Gurnah sinh ra ở Zanzibar,

sống tại Anh, câu trích dẫn này của Peter Brooks nhấn mạnh vào quyền lực của những truyện kể trong việc làm trung gian cho cách chúng ta tạo nên ý nghĩa của thực tại. Các tiểu thuyết của ông đã triển khai mỹ học văn chương để nói tới và soi sáng những biểu hiện của cuộc sống di cư như được tạo ra bởi lịch sử tiếp xúc lâu dài của con người, sự trao đổi văn hóa và sự giao thương trên bờ biển Đông Phi ở Ấn Độ Dương cả trước và sau khi Zanzibar độc lập vào năm 1961. Thông qua việc khám phá cách những mối liên hệ này liên quan đến nhiều hình thức di cư và hành trình khác nhau đến những vùng đất xa lạ (cách xa nơi ở ban đầu của các nhân vật), chúng tôi muốn nghiên cứu văn chương của Gurnah tham gia vào một vấn đề rộng lớn hơn, đó là sự tìm kiếm của người di cư những không gian hòa đồng trong những bối cảnh chính trị xã hội khác biệt.

Tất cả các truyện kể của Gurnah đều là những truyện di cư. Trong một thế giới toàn cầu hóa tạo khả năng cho sự di chuyển của con người, hàng hóa và tư tưởng, nhưng trong đó các xu hướng thù địch và phi hiếu khách cũng trỗi lên, tiểu thuyết của ông mở ra một cánh cửa sổ để hiểu được sự di cư ảnh hưởng đến sự tương tác của các dân tộc như thế nào thông qua những trải nghiệm sống, hiện thân. Do đó, các truyện kể góp thêm những cái nhìn mang tính kinh nghiệm và tình cảm vào các cuộc tranh luận về phong trào di cư và các mối quan hệ xã hội ở Đông Phi, rộng ra là thế giới mà, thí dụ, các hình thức thể hiện phi văn học có thể không đưa ra được.

Gurnah là nhà văn năng sản nhất trong một nhóm nhỏ các nhà văn viết tiếng Anh ở Tanzania - Kiswahili là ngôn ngữ văn học chính của Tanzania. Các nhà văn khác gồm Gabriel Ruhumbika, Peter Palangyo, Ismael Mbise, W.E. Mkufya, Hamza Ssoko, Sukiema Karmali, Jules Damji, Yasmin Ladha, Eleishi Lema, M.G. Vassanji.

Gurnah là tác giả của các cuốn tiểu thuyết: Memory of Departure (1987), Pilgrims Way (1988), Dottie (1990), Paradise (1994, danh sách rút gọn giải Man Booker Prize), Admiring Silence (1996), By the Sea (2001), Desertion (2005), The Last Gift (2011) và Afterlives (2020), tất cả đều liên quan đến vấn đề di cư và các chủ đề kèm theo của nó. Ngoài tiểu thuyết, Gurnah còn được biết đến với những tác phẩm phê bình của mình, ông đã biên tập một số tập phê bình văn học, như Essays on African Writing:

A Re-evaluation (1993), Essays on African Writing: Contemporary  (1995), The Cambridge Companion to Salman Rushdie (2007).

Có sự tập trung đặc biệt về Zanzibar

như là bối cảnh cho hầu hết các tiểu thuyết của ông. Trong số chín cuốn tiểu thuyết của ông, chỉ có hai cuốn duy nhất lấy bối cảnh ở Anh. Gurnah sinh ra ở Zanzibar năm 1948. Năm 1968 hậu quả của cuộc cách mạng Zanzibar, tiếp theo là những gì ông đã mô tả trong Memory of Departure như một “bầu không khí náo nhiệt của âm mưu và chính trị và sự trả thù... mà chính phủ độc lập mang lại” khiến ông buộc phải “chạy sang Anh”. Do di sản Yemen/ Kenya của mình, ông thuộc vào số những người rời bỏ Zanzibar vì sự khủng bố mà chính phủ cách mạng đã giáng xuống những người dân không được coi là “người Phi” thực sự.

Thời điểm ông đến Vương quốc Anh vào cuối những năm 60 trùng với bài diễn văn “Những dòng sông máu” mang tính phân biệt chủng tộc và bài ngoại của Enoch Powell trong “chiến dịch ma quỷ chống nhập cư”. Bầu không khí xã hội tại thời điểm Gurnah đến Vương quốc Anh đã ảnh hưởng lớn đến công việc của ông, như ông đã kể lại một cách cô đọng bằng chính lời lẽ của mình trong bài viết “Sợ hãi và ghê tởm”: “Thật kinh hoàng khi tôi nhận ra sự thù ghét mà tôi phải chịu: những cái nhìn, những sự chế nhạo, những lời nói và cử chỉ, những tin tức phóng sự, những trò nhạo trên TV, những thầy cô giáo, những bạn cùng lớp. Mọi người bộc lộ một chút và nghĩ rằng mình khoan dung, hay có thể là càu nhàu nhẹ nhàng, hay thậm chí là trêu đùa. Rốt cuộc nó dường như là chuyện thường xuyên và đểu cáng. Nếu có nơi nào để đến, tôi chắc đã bỏ đi”.

Bầu không khí hận thù này ở Vương quốc Anh cùng với hoàn cảnh Gurnah rời Zanzibar tạo thành bối cảnh chính cho sáng tác của ông. Chính mối quan tâm đối với “những người bị bật khỏi quê gốc họ” đã tạo thành các chủ đề chính của Gurnah: di cư, buôn bán và lòng hiếu khách. Những chủ đề này được khám phá trong các tác phẩm tiểu thuyết của ông với bối cảnh ở nhiều vùng không gian và thời gian khác nhau nhưng được kết nối với nhau: thế giới Ấn Độ Dương thời tiền thuộc địa và bờ biển Swahili (Paradise, thời thuộc địa của Đức (Paradise) và thuộc địa của Anh (By the Sea, Admiring Silence, Desertion); vùng

Zanzibar theo chủ nghĩa dân tộc thời hậu độc lập (Memory of Departure, Admiring

Silence, Desertion, By the Sea), nước Anh (Dottle, Pilgrims Way, The Last Gift); và có những bối cảnh xuyên qua cả châu Phi và châu Âu (By the Sea, Admiring Silence, Desertion).

Như vậy vũ trụ hư cấu của Gurnah liên quan đến việc “di chuyển các từ ngữ/thế giới qua các nền văn hóa và vận chuyển trí tưởng tượng ra ngoài bản đồ của các biên giới được xác định bó hẹp”. Đối với Gurnah,

thời gian dịch chuyển từ “trước khi bắt đầu thời gian”, như trong truyện ngắn “Bossy”, tới thời đại Internet trong The Last Gift, cung cấp khung thời gian và phạm vi cho tác phẩm của ông. Như các truyện kể của Gurnah thường xuyên cho thấy, các cá nhân và những câu truyện của họ có thể là một khu vực màu mỡ để đọc quá khứ, bởi vì các cuộc sống của cá nhân được định hình bởi cấu trúc xã hội lớn hơn; cấu trúc này vốn phức tạp bởi nhiều yếu tố, như giai cấp, giới, tôn giáo và chủng tộc.

Trong các tác phẩm của Gurnah, trao đổi giữa người với người là motip chủ đạo trở đi trở lại. Lịch sử giao thương lâu dài giữa Zanzibar và phần còn lại của thế giới dẫn đến kết câu giống như tranh khảm của cộng đồng Zanzibar. Lịch sử thương mại này, cùng với cuộc đụng độ của Zanzibar

với lịch sử bạo lực của chế độ nô lệ và chủ nghĩa thực dân mang nghĩa là các mối quan hệ con người trên hòn đảo Đông Phi ở Ấn Độ Dương trong những năm qua được đặc trưng bởi sự mất cân bằng quyền lực có thể thấy từ những thời điểm lịch sử này.

Theo Patterson, điều này lên đến đỉnh điểm trong cuộc cách mạng năm 1963 “bạo lực và đổ máu... đã tạo ra một triều đại khủng bố đối với người Ả rập ở Zanzibarvà ở một mức độ nào đó là cả với người châu Á”.

Quá trình huyên náo giành độc lập và cuộc cách mạng tiếp theo đó tạo thành bối cảnh trong các tiểu thuyết Admiring

Siledesertion và ở một mức độ nào đó trong By the Sea. Điều hiện ra rõ khi đọc tác phẩm của Gurnah là tính đa ngôn ngữ và lịch sử thay đổi của Zanzibar nói lên việc tìm kiếm và sự mô tả nhũng tưởng tượng về một xã hội hiếu khách - với sự tập trung đặc biệt vào thời kỳ mà sử gia w. H. Ingram mô tả là “lịch sử của Zanzibar hiện đại”.

Các tiểu thuyết của Gurnah đã được đọc theo nhiều cách bởi nhiều nhà phê bình khác nhau; họ tìm kiếm ý nghĩa của “Zanzibar hiện đại” này đối với các nhân vật khác nhau trong các truyện kể của ông và cách nó liên quan đến lịch sử thuộc địa và hậu thuộc địa. Như các chương tiếp theo sẽ cho thấy, bầu không khí nghi ngờ diễn ra sau cuộc cách mạng đã đánh dấu sự khởi đầu của một cuộc di cư tự nguyện và không tự nguyện về phía Bắc địa cầu. Số phận của những nhóm người di cư này khi họ cố gắng tái lập bản thân ở cả trong và ngoài nước là một trong những mối quan tâm hàng đầu trong tác phẩm của Gurnah.

Sự tương tác liên văn hóa và thương mại rộng rãi dọc theo bờ biển Đông Phi Ấn Độ Dương giữa những người có nguồn gốc khác nhau đã tạo ra khối nghiên cứu đáng kể trong các ngành như Lịch sử, Nhân học, Khoa học Chính trị và Âm nhạc. Xung lực đa ngành trong nghiên cứu này đòi hỏi một sự tương tác với khối nghiên cứu đó vì nó soi sáng các khía cạnh kinh nghiệm, cảm xúc và cá nhân của văn chương.

Phong cách tự sự của Gurnah sử dụng nhiều góc nhìn để kể lại các dạng khác nhau của lịch sử Zanzibari mà các bộ môn tri thức khác có thể không tiếp cận được vì những hạn chế về phương pháp luận. Thí dụ, nhà sử học nổi tiếng Garth Myers trong công trình “Những biểu hiện tự sự về Zanzibar thời cách mạng” đã sử dụng tiểu thuyết của Gurnah để trình bày chi tiết tác động của cuộc cách mạng ở Zanzibar đối với đời sống xã hội của cư dân địa phương. Như chính Gurnah nhận xét, trong bài “Viết và nơi chốn”, thông qua việc sử dụng hình thức tự sự, tiểu thuyết có khả năng đưa ra “những truyện kể mâu thuẫn” mang lại “khả năng có những cách hiểu biết phức tạp hơn”.

Mô tip hành trình

Mô tip hành trình như một yếu tố cấu trúc trong Admiring Silence có sự cộng hưởng đặc biệt với tư tưởng về đối thoại và im lặng. Thông qua các cuộc hành trình, kiến thức bị bắt im lặng trở nên có tiếng nói và do đó các nhân vật ý thức được sự tạo thành căn cước của họ.

Như đã thấy, toàn bộ tác phẩm của Gurnah đều liên quan đến tình trạng di cư. Tư tưởng về sự di chuyển, những lý do thực hiện hành trình và sự thể hiện các hành trình này là rất quan trọng đối với sự hiểu biết về cuộc sống của người di cư. Admiring Silence khai thác motip hành trình qua lời kể của chủ thể di cư. Trong Admiring Silence, tư tưởng về sự di cư không chỉ gắn với định nghĩa của nó là sự di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác, nơi này đến nơi khác. Câu truyện còn sử dụng các phương thức khác để nói về sự tái định cư do cùng những chế độ như vậy tạo ra, gây nên các cuộc di chuyển vật lý xuyên biên giới. Hôn nhân là một trong những cách thể hiện sự di chuyển như vậy. Thí dụ, trong câu truyện này, hôn nhân có thể được xem như một phép chuyển nghĩa đáng được phân tích trong cùng một khuôn khổ như sự di cư thông thường, là cốt lõi của chủ đề bao trùm của cuốn tiểu thuyết. Từ những lựa chọn từ vựng của câu truyện kể về cuộc hôn nhân, người ta thấy các nhân vật thực hiện các cuộc hành trình từ không gian này sang không gian khác để tìm kiếm những bản ngã khác giúp nhận diện và thực hiện được bản ngã cá nhân.

Trong Admiring Silencey người kể chuyện đã quyết định trở về nhà sau khi chế độ độc tài đã bị lật đổ và một ban lãnh đạo mới lên cầm quyền. Bỏ lại người bạn đời của mình, Emma, ở lại Anh với Amelia, người kể chuyện trở về quê hương Đông Phi của mình. Khi trở lại nước Anh, anh phát hiện ra Emma đã quyết định tiếp tục cuộc sống của mình bằng cách rời bỏ anh đi theo một người đàn ông khác. Trong lúc người kể chuyện về thăm “nhà”, Emma sợ hãi việc anh ta trở lại. Đối với Emma, sự “trở lại” của anh ta không chỉ là chuyến hành trình trở lại Anh quốc mà còn là sự “trở lại” với cuộc đời cô. “Cuộc hôn nhân” của họ đã được mã hóa như một cuộc hành trình, và điều này không cho phép cặp đôi có được cảm giác đã đến đích cuối cùng.

Trong Admiring Silence có thể đọc thấy những bộ mã như vậy về hành trình khi hiểu ra hôn nhân là ngụ ý sự di chuyển từ các không gian xã hội này sang các không gian xã hội khác. Chẳng hạn, người kể chuyện nhận ra bố mẹ mình đã âm thầm giấu anh ta, sắp xếp một cuộc hôn nhân cho anh ta như một cách chào đón anh ta trở về nhà thăm gia đình. Nếu anh ta kết hôn với Safîya, cô gái mà cha mẹ anh ta lựa chọn, điều đó có nghĩa là anh ta đã trở về nhà. Đối với người cha dượng (người “nghĩ rằng việc đó sẽ rất vui”) và đối với người mẹ, đứa con trai “hoang đàng” bây giờ sẽ được hạnh phúc. Người mẹ thực sự ngạc nhiên “có ai thiếu gia đình mà lại hạnh phúc được”. Đối với bố mẹ của cô gái, cuộc hôn nhân và sau đó là cuộc hành trình đến Anh có nghĩa là bảo đảm cho con gái họ có được cuộc sống ổn định và triển vọng. Cô ấy sẽ “đưa” bố mẹ lên một bậc cao hơn trong nấc thang xã hội. Trên thực tế, cô gái “Đã từ chối hai lời cầu hôn từ những người đàn ông trẻ tuổi hơn, vì cô ấy sẽ phải bỏ dở việc học hành nếu kết hôn với một trong hai người đó. Cô ấy muốn học và làm bác sĩ ở Anh”.

Như vậy, nói theo ngôn ngữ thần học, được báo hiệu bằng sự ám chỉ đến “đứa con hoang đàng”, hôn nhân trở thành một phương tiện của sự hình thành bản sắc và sự siêu việt xuyên suốt câu chuyện. Đồng thời, ý niệm về hôn nhân là đề cập đến chủ đề gia đình và thuộc về. Khi hai gia đình đang tán thành ý tưởng người kể chuyện sẽ lấy cô gái, thì người kể chuyện đang thầm nghĩ về Emma theo cách thế này:

Tôi ước gì đã đi khỏi nơi đó, để trở Battersea và cùng với Emma trở về nhà. Nước Anh không phải là nhà (vì vậy bạn có thể cuốn thảm đỏ nó ra, nếu bạn quan tâm, những sự chỉ chống người bản xứ bị xa mà là cuộc sống mà tôi đã biết với Emma. Đó là phần bí mật nhất, đầy đủ thật nhất của tôi. Tôi biết điều đó ngay bây giờ, và muốn kết thúc những gì cần nói và làm để trở về với cô ấy, trở về từ đây nơi không còn là nhà nữa.

Từ đoạn trích này, ý tưởng về quê nhà đã bị loại bỏ khỏi mối liên hệ thông thường với địa lý và biến thành các phương thức của tính xã hội. Đối với anh ta, nhà không ở đây (Zanzibar) cũng không phải ở đó (Anh). Đối với anh ta, “những ngôi nhà... luôn luôn là tạm thời”. Cuối cùng khi được biết rằng “ngần ấy năm anh ta [người kể chuyện] đã kết hôn với một phụ nữ Anh” thì một trong các nhân vật đã hoảng sợ khuyên nhủ: “Vậy thì anh đã đánh mất... anh đã đánh mất chính mình và đánh mất dân tộc của mình. Con người không là gì nếu thiếu dân tộc của mình”. Sau đó, khi cuốn tiểu thuyết kết thúc và mẹ của người kể chuyện mời anh ta trở lại Zanzibar trong một bức thư, người kể chuyện đã phủ nhận ý định quay trở lại Zanzibar, nói rằng “nó không còn là nhà nữa”.

Đối với một số người, hôn nhân chỉ có thể được hiểu là một cuộc hành trình giúp họ thoát khỏi sự im lặng về văn hóa và xã hội. Một thí dụ điển hình là Rehema. Căn cước thực sự của cô ấy và quan hệ với người kể chuyện vẫn không rõ ràng. Có lúc anh ta gọi bà ấy là “chị gái của bố tôi”, sau đó bà ấy trở thành mẹ kế của mẹ anh ta, và cuối cùng thành một người họ hàng vô danh của cha dượng anh ta:

“Tên bà ấy là Rehema, và bà ấy là một dạng họ hàng với cha tôi. Tôi không chắc về mối quan hệ chính xác của họ nhưng tôi ngờ là chúng tôi không có quan hệ huyết thống”. Rehema chuyển từ cuộc hôn nhân này sang cuộc hôn nhân khác để tìm kiếm hạnh phúc. “Chồng cô ấy là một thợ sơn nhà” nhưng sau đó là “Rehema... chuyển đến Mombasa và tìm cho mình một người chồng mới. Motip hành trình và cuộc tìm kiếm căn cước có thể đọc ra ở chỗ xen giữa các cuộc hôn nhân, Rehema lao vào các cuộc phiêu lưu tình dục, mà một trong số đó người kể chuyện chứng kiến nhưng chọn cách im lặng bằng cách nói dối mẹ của mình:

Chị gái của bố tôi đã trở thành một trong những thành viên tích cực của cánh phụ nữ trong đảng, bà tổ chức, diễn thuyết, kéo người ra ngoài, bắt nhịp tiếng hò hét, và như lời đồn đại, luôn có cho mình một khoảng thời gian vui vẻ. Thực ra còn hơn cả tin đồn, chính tôi đã tự thấy thế. Mẹ bảo đến nhà bà mang theo một tin nhắn... nơi vợ chồng bà từng sinh sống... Tôi kéo rèm phòng ngủ của bà... và bà ấy khỏa thân nhảy ra khỏi giường và kéo rèm xuống, nhưng không nhanh đến mức tôi không nhìn thấy huấn luyện của đội bóng đá địa phương của chúng tôi đang nằm trên giường mà không mặc gì cả.

Trong đoạn cụ thể này, có một số điểm thích hợp phải được nhắc lại về cách sự im lặng được ngụ ý trong motip hành trình và về mối liên hệ của nó với việc di cư nói chung. Một là truyện kể về những cuộc hôn nhân này như một cuộc hành trình tự nhận thức bản thân được thực hiện khi người kể chuyện thực sự đi về quê hương của mình. Thứ hai, câu truyện được kể thông qua suy nghĩ trong đầu không được nói ra bằng lời (thuật lại). Điều này là do các hành động đã được hoàn thành ngay trước khi người kể chuyện bắt đầu kể cho chúng ta câu truyện của anh ta. Những chuyến bay trong tâm thức đó được sử dụng để soi sáng và nói lên các sự kiện bị im lặng khác. Người kể chuyện nhớ lại trong lúc khủng hoảng. Cuộc sống của anh ta rất phức tạp bởi thực tế là Emma và Amelia đã bước ra khỏi cuộc đời anh ta. Thứ ba, anh ta đang cố gắng tạo ra ý nghĩa cuộc sống của mình vào thời điểm anh ấy cô đơn. Trong hành trình tinh thần của mình, anh ấy vẫn đang cố gắng xác định lại bản sắc của bản thân. Anh ta trầm ngâm: “Bây giờ, khi cô ấy đã bỏ đi, tôi thấy mình đang sống ở Anh vì những lý do gì không biết nữa. Và đôi khi tôi tự hỏi liệu đây có phải là điều đã xảy ra với Abbas, cha tôi, và liệu tôi có nên nỗ lực hơn nữa để định vị ông ấy hay không”.

Trong sự im lặng của anh ta, những cuộc hành trình tinh thần được sử dụng để tái tạo những cuộc đối thoại mà người kể chuyện đang có với chính mình. Trong những cuộc đối thoại im lặng này, motip tìm kiếm là rõ ràng. Anh ta không biết mục đích cuộc đời của người kể chuyện và anh ta đang cán nhắc việc tìm kiếm cha mình để định vị chính mình trong cuộc sống của ông ấy và hiểu rõ hơn về bản thân. Làm như vậy là để cố gắng hiểu tại sao Abbas lại quyết định kết thúc cuộc hôn nhân của mình. Mẹ của người kể chuyện thực sự thắc mắc liệu Abbas bỏ bà có phải vì “cô vợ người Anh” của ông ấy hay không. Các câu hỏi tu từ mà người mẹ hỏi hướng đến mối quan tâm của người kể chuyện về việc tái định cư, về các chế độ có thể thúc đẩy các phong trào như vậy và vẽ ý nghĩa của việc di cư - cả đối với người di cư và những người bị bỏ lại phía sau. Bà nói với người kể chuyện:

Đó là một việc lớn mà ông ấy đã làm, bỏ đó có phải là để tìm kiếm tự do hay để trốn tránh điều mà ông ấy đã làm? Bất kể áp bức mà ông ấy cô tìm cách thoát khỏi là gì, thì một sự bỏ đi như vậy có thể mang điều gì ngoài những hậu quả không thể chịu nổi? Nếu đó không phải là sự chạy trốn, nếu là vì tự do mà ông ấy bỏ đi, thì bên ngoài kia có gì để ông ấy muốn đến mức có thể hành động với sự tự tin nhẫn tâm như vậy?

Những câu hỏi này không phải đặt ra cho người kể chuyện để anh ta trả lời. Đó là người mẹ sử dụng cái mà người ta có thể gọi là sự hùng biện của ký ức. Đó là những câu hỏi bà đã thẩm tự hỏi mình; không phải một lần mà nhiều lần: “Tôi cố tưởng tượng điều gì đã có thể khiến ông ấy bỏ đi như vậy. Tôi đã cố làm như vậy trong nhiều năm, nhưng tôi đã bị đánh bại bởi quy mô của hành động này”. Tuy nhiên, ngay cả sự thất bại cũng không khiến bà hết thôi thúc muốn hiểu tại sao ông ấy lại bỏ đi: “Có lẽ ai đó biết ông ấy ở đâu, và bạn có thể đến thăm ông ấy... và cô vợ người Anh của ông ấy”.

Đối với người kể chuyện, cuộc hôn nhân của người mẹ với cha dượng của người kể chuyện là một cái bẫy văn hóa khiến bà mẹ sống như một kẻ bị giam cầm - bởi vì những lựa chọn trong cuộc sống của bà là do những người khác làm - trong trường hợp này là người chồng mới của bà. Mẹ của người kể chuyện hy vọng rằng người kể chuyện sẽ đi tìm cha của mình, người mà anh ta không nhớ (Abbas đã từ bỏ cuộc hôn nhân trước khi anh ta sinh ra). Đối với bà, cũng như đối với người kể chuyện, hôn nhân là một hành trình làm giới hạn sự nhận thức hoàn toàn về bản thân. Sau khi nói dối Emma một thời gian dài, người kể chuyện giờ đây đang ở tình thế vô vọng, bởi vì cuộc hành trình của họ cùng nhau và mối quan hệ xã hội của họ đã bị phá vỡ bởi sự ra đi của cô ấy. Kết quả là người kể chuyện đã uống rất nhiều và khi kết thúc câu chuyện, anh ta thổ lộ với người đọc, qua một thông tin để trong ngoặc đơn, rằng “(Tôi vẫn đang ngồi bên cạnh nó” [cái chai]). Thông tin trong ngoặc đơn này “(Tôi vẫn đang ngồi bên cạnh nó”) thể hiện một sự im lặng chỉ nói được với người đọc, như thể muốn nói, đây là “chỉ dành cho đôi tai của bạn”. Điều này nhấn mạnh sự xấu hổ không thể nói ra lời do anh ta đã im lặng về những sự kiện trong cuộc sống trước đây của mình.

Chính từ vị trí say xỉn này mà người kể chuyện tham gia vào một chuyến bay tinh thần khác, trong đó anh ta coi tình bạn như một tiềm năng giải phóng: anh ta nghĩ đến việc gọi Ira, “một phụ nữ Ấn Độ xinh đẹp” người ngồi cạnh anh ta trên máy bay trong hành trình từ Zanzibar quay về. Giống như người kể chuyện, Ira đã có một “tình yêu thất vọng” đối với nước Anh: đối với người đàn ông mà cô đã kết hôn, người mà đối với cô “có nghĩa là nước Anh... đã bỏ lại. Khoảng một năm trước. Anh ta đã gặp một người khác”. “Tình yêu thất vọng” này đối với một không gian địa lý gọi là nước Anh (được thể hiện ở đây qua các đối tác tình yêu riêng lẻ) thấm vào các câu truyện của người di cư kể về những cuộc gặp gỡ xã hội. Tuy nhiên, thông qua việc trình bày những cuộc gặp gỡ với những địa điểm và con người xa lạ, câu chuyện giúp chúng ta suy ngẫm về cách những cuộc gặp gỡ như vậy ảnh hưởng đến khả năng nói lên bản thân và được lắng nghe, ngay cả khi thất vọng. Không ở đâu sự theo đuổi việc nói lên này được thể hiện tốt hơn trong Last Gift và trong sự thể hiện trải nghiệm của những người di cư ở Admiring Silence.

Bằng cách sử dụng Abbas như một nhân vật ngoài lề trong Admiring Silence và là nhân vật chính trong The Last Gift, Gurnah ngụ ý rằng việc lắng nghe câu truyện của một người di cư chỉ là một bước khiêm tốn trên con đường để hiểu cuộc sống của những người di cư. Sự im lặng như được triển khai trong các tiểu thuyết cho thấy cả ngôn ngữ và văn chương đều không đủ khả năng giải thích đầy đủ về sự phức tạp của cuộc sống di cư. Chẳng hạn, Admiring Silence tránh kết truyện do không có khả năng hoặc do từ chối tiết lộ số phận của Abbas. Do đó, câu truyện buộc người đọc phải suy ngẫm về các phiên bản khả thi khác nhau của những gì có thể xảy đến với Abbas. Đối với các nhân vật trong cuốn tiểu thuyết, sự thiếu cái kết khép lại này thể hiện sự lo lắng không chỉ đi kèm với nỗi đau mất mát một người thân yêu mà còn cả việc họ tìm kiếm anh ta. Sử dụng sự im lặng và vắng mặt như một chiến lược tự sự, truyện kể củng cố thêm một cách đọc đòi hỏi người đọc phải quay trở lại chủ đề mất mát và tìm kiếm. Mặc dù sự hồi phục của Gurnah đối với Abbas trong The Last Gift có thể làm hài lòng một số độc giả của Admiring Silence, những người có thể đã thất vọng vì sự im lặng về số phận của anh ta, thì món quà khép lại truyện như vậy chỉ mở thêm ra câu truyện khi biết những sự giải thích mà những người thần của Abbas gán cho sự ra đi bí ẩn của anh ta là không chắc chắn. Đến cuối cuốn tiểu thuyết, cuộc đời của Abbas đã được làm rõ ra nhiều. Tình trạng tắt tiếng tạm thời của Abbas, do căn bệnh của anh ấy, lại làm phức tạp thêm vấn đề, bởi vì cuối cùng khi anh ta cố gắng đọc câu truyện của mình vào máy ghi âm, truyện kể vẫn bí ẩn với những khoảng trống im lặng, mà gia đình (và độc giả) còn phải tìm hiểu.

NGÂN XUYÊN dịch từ tiếng Anh

(Theo Viết & Đọc Chuyên đề mùa đông)


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

Học tập Bác qua bài thơ “Nghe tiếng giã gạo” - trong tập thơ “Nhật ký trong tù”
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác bồi dưỡng đạo đức nhà giáo hiện nay
Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Phú Thọ làm theo lời Bác!
Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phan Đinh: Gia tài lớn nhất đời tôi là những tấm ảnh Bác Hồ
Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ với cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Trường Tiểu học thị trấn Thanh Ba học tập và làm theo gương Bác
50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nghĩ về 5 lời thề
Bí thư Đoàn năng động
Tuổi trẻ huyện Lâm Thao học tập và làm theo lời Bác
HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.