NỘI DUNG CHI TIẾT
CHÚT HỒI ỨC VỀ MIỀN THƠ ẤU
12/24/2012

 

Tùy bút của Nguyễn Tham Thiện Kế

     Do xê dịch ngẫu nhiên của số phận, tuổi thơ Tôi lớn lên ở mường Cự Thắng, châu Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Mường Cự Thắng! Một thế giới của những mái nhà sàn thông thênh có thể tập xe đạp trên gác, bao quanh chân núi Sụ có bàn cờ Tiên bên dòng suối Cái xanh rêu mướt mát.

Cây hoa dây bướm. Trái đũm hương. Gai mây, gai mái, gai phù quân. Ruồi vàng, muỗi hổ u u bay rối, vắt lá nhảy bước tán cây. Ve sầu núi cánh mỏng lụa kêu inh inh nắng gắt cuối hè. Khói cơm lam, cá sáp nướng và canh rau rớn phơi tái nấu mẻ với cá trình mun trong gác Mường đã đắp bồi tưới tốt dáng hình Tôi.

Tuổi thơ Tôi tha thủi bên những cối gạo nương thậm thịch đọc Alphonse Daudet, một trong món hành trang còn sót  lại trong tay nải của Cha . Nghe tiếng mõ trâu khua lốc cốc,  ngỡ hẳn sắp có thiếu nữ Mường nào đó, chốc lát thôi sẽ bước từ trên đỉnh núi Sụ nắm tay Tôi dắt lên mây trắng tơi tả quấn dọc sườn non cuối dãy Hoàng Liên Sơn, nghe già Đông Chắt kể chuyện nhà Lang.

Già là ông nội người bạn Mường thủa thiếu thời của Tôi.

Già gân guốc bất ngờ như khúc gỗ lũa mới moi lên từ đáy rừng già. Trầm tư và dứt khoát, già chiêu nước cây tiêu thực bằng bát lớn. Ngọn lửa đêm đông, củi sồi đen, than hồng, tro xám trắng vùi sắn nếp bở tung, khoai lang ngọt bùi rồi bung bỏng ngô, bỏng hạt cao lương bên dưới gác bếp treo chứa từng xâu nhái, từng xấp tên nỏ còn dính máu khô của mãnh thú rừng già.

Tôi nhấm nháp sắn khoai nhấp nhổm lo sợ ảo giác rằng loạt mũi tên trên đầu kia bất ngờ cắm vào đâu đó thịt da mình. Vị canh măng chua nấu nhái khô băm nhuyễn nồng nàn suốt tháng Ba năm trước tới tháng Ba năm sau. Thứ canh bổ dưỡng có thể khiến người say rượu sắn bừng tỉnh đủ sức lên nương kiếm củi. Lạ lùng bao nhiêu năm, trong Tôi còn roi rói âm điệu chất giọng Mường cổ khê khê dấp dính sắc thái Kinh của già.

Ừ, con gái nhà Lang xinh đẹp tắm suối Cái sợ đỉa, nồng nỗng bắt già cõng mãi trên lưng.  Phải, nhà Lang cho người phục kích cướp súng Tây ủng hộ Việt Minh... Hứng lên già còn hát Đúm hát Giang với người đẹp  tưởng tượng nào đang ngồi trước mặt. Thiếu nữ Mường khăn, yếm trắng, áo kiểu cánh dơi, váy lĩnh đen óng bó hông, vác liền hai ống nước dài, vung tay như múa. Vòng tay, ánh mắt già ngây ngây men rượu tuổi tráng niên. Giai điệu tha thiết khiến lòng Tôi thê thảm:

Lúa mường Trời

Con gái mường Trời

Thơm đẹp như nhau

Sao không nhìn tôi đi

Sao không đạp lên tôi đi

Tôi cõng em một lần sang con suối nhỏ

Mà tôi phải địu em trên lưng cả đời.

Tình tôi đếm bằng từng ấy lá cây rừng Lưỡi Hái

Tình em đếm một ngón tay.

Con gái nhà Lang cành bạc quả vàng

Sao chỉ hé cho ta quả mòng quả ngọt.

Già cúi gục xòe hai bàn tay nhăn nhúm trước mặt.

Những mùa hè dưới bóng duối cổ kính nơi ngã ba đường quốc lộ ngược ngàn Tây Bắc, cổ kính như lớp da mồi xếp nếp cổ áo nâu, già Đông Chắt loay hoay khề khà đánh vật với khúc gỗ, ống bương gốc, thanh tre ngà, mẩu cành gỗ mơ...

Qua giấc trưa và tàn những câu chuyện về nhà Lang thì trước mắt bọn trẻ chúng tôi, già Đông Chắt đang ngắm nghía cần cối gạo nương bằng gỗ táu mật vàng sậm hoặc gỗ nhãn rừng đỏ, một cánh nỏ, một nõ điếu hút thuốc lào, một mõ trâu đại đầy đủ ba hoặc dùi gỗ sến buộc dây xe sợi nõn ngọn dây sắn dại trắng ngà, to tày đầu giải rút quần lòng thòng của già.

Giơ vật vừa chế tác ấy lên, già Đông Chắt thành kính.

- Ta đội ơn thần Núi thần Rừng đã giúp ta làm được một thứ này nữa. Thần rừng, thần núi cho vay hôm nay một, ngày mai ta sẽ trả thần Núi thần Rừng gấp mười.

Chúng tôi, đám trẻ người Kinh nửa tin nửa ngờ, còn thằng Lưu và đám bạn Mường thì mồm miệng há hốc tin. Ruồi vàng chích, bọ chét đốt cũng quên gãi.

Những món đồ làm từ cây rừng, già Đông Chắt đem đổi trao tay cho ai đó trong Chiềng (xóm Mường) hoặc mấy gia đình người Kinh mới lên xây dựng kinh tế nép loi thoi bên con đường 24A lấy cút rượu sắn, bơ lạc hoặc mắm tép, mắm tôm và những gắp cá giếc, cá rô nướng quá lửa của bà Lừng hàng gồng ngoài Phù Lao bán rong vạ vật.

Mỗi ngày già chỉ làm một hai món có thể đắp đổi đủ dùng cho bản thân và đám cháu lít nhít chỉ rặt mắt, răng, và tóc. Dĩ nhiên, đôi khi tôi cũng được hưởng lộc rừng của già.

Trước khi vào rừng, nếu phải đi nặng, đi nhẹ nơi cửa rừng, dứt khoát hôm ấy già Đông Chắt gác dao. Làm ô uế rừng, già không dám vào rừng. Nhìn rừng thiêng Đồi Giòng bị công nhân lâm trường 41 đốn hạ để trồng cây theo qui mô công nghiệp, già Đông Chắt xanh mặt.

- Vạn vật hữu sinh hữu linh hồn. Tàn sát cây rừng hàng loạt thế kia thì báo ân báo oán dài lâu lắm đấy!

Tôi không biết là rừng sẽ báo oán gì, thấy hơi ớn lạnh.

Trong lúc Miếu Mường thờ thần rừng, đình Mường dưới Đồng Tế bị phá dỡ làm kho phân đạm, chặt một cây mít bị sâu không có quả, già Đông Chắt cũng bấm ngón tay lẩm bẩm tính ngày, tính tháng. Thắp hương, già quì mọp trước gốc cây bái lạy như lẩn thẩn.

- Thưa ông mít! Ông thấy mặt trời trước tôi. Ông được cha ông cụ  kỵ nhà tôi tạo tác nên. Suốt bao ngày qua tháng lại ông đã cho dòng họ tôi ngon sự ngọt của múi,  bùi béo của hạt, đến cái vỏ gai cũng làm ngon miệng trâu miệng bò. Nay số ông đã tận, tôi hóa kiếp ông khỏi kiếp mít xó vườn cho trâu bò ỉa quanh gốc, ông làm kiếp cây thông cây tùng oai vệ thiêng liêng trên đỉnh Hoàng Liên. Kính lạy ông mít.

Hợp tác xã hóa, trâu bò hết nuôi tập trung rồi xé lẻ nuôi tận hộ, dù nuôi kiểu gì trâu bò miền đồng rừng khi chăn thả vẫn phải có mõ có chuông đeo để xua thú dữ hay khi lạc bầy còn chỉ dẫn cho chủ lần rừng đến tìm.

Ai cũng đua nhau đến đặt già làm mõ cho trâu nhà mình. Nhưng già phải lựa chọn chán chê mới nhận lời một ai đó.

- Trâu bò hay con người cũng giống nhau cả. Không phải ai cũng có danh có tiếng được. Thứ trâu nái chươn không chửa không đẻ lần nào, chỉ rình chực ăn lúa non, bừa chưa đến góc bờ đã quay ngoắt, làm sao đeo cái mõ của ông làm được.

- Thôi, con trâu già đầu đàn sắp phế canh khôn ngoan lắm, không cần mõ chuông gì cho tốn. Loại này chỉ trừ bị cảm hay rắn cắn chết mới chịu nằm lại trên rừng.

- Được! Con đực tơ nhà Đoán hôm nọ kéo củi biết ghìm dây thiếu(*) cứu chủ khỏi cây lăn ngang người. Già sẽ làm ngay một cái mõ đại xứng đáng cho nó.

Những cái mõ làm từ một đốt gốc cây bương cái già mốc, mọc chân núi đá. Đốt bương đẽo sơ thành hình tại chỗ khai thác, sau đó sấy khô cho ăn khói đủ ba năm trên gác bếp. Dùi gỗ kén thứ gỗ sến lõi, sấy gác bếp cùng. Chọn ngày lợi khẩu, già mới đem ra bào nạo đánh bóng bằng sáp ong cho khỏi ngấm nước. Dây buộc bộ dùi và đeo mõ là thứ dây gai hoặc dây sắn dây chuốt nguyên tơ trắng xe chỉ, chập đôi, rồi chập ba, chập tư tẩm sáp.

Khi mõ làm xong, nhằm ngày đại an, đích thân già buộc mõ vào cổ trâu và nói mấy câu như niệm chú:

Nhớ nhé vang vang vọng vọng...

Người ta cần nghe thì mày lên tiếng,

Đừng lên tiếng lung tung khi mày ở dưới sàn!

Cái mõ trâu bằng gốc bương già.

Nhưng mày không được nói tiếng bương,

Mày ca lên tiếng mõ

Mõ mà không kêu mõ

Trẻ con cũng không khiến mày làm củi sưởi

Mùi hôi trâu bò rối trí chiềng tao.

Tiếng mõ lốc cốc ngái ngủ vang thì sáng sớm trẻ con nhớ vộc dậy mò cơm nguội đeo túi dết vải bạt xanh lội suối Cái đến trường. Người lớn dụi mắt, vác cày bừa, cầm mẩu sắn luộc nhai chậm chuội, đằng sau lộp cộp đằng trước lộp cộp, trâu thúc trâu nghênh nghênh sừng; thong dong đường đá cuội, người với trâu ra đồng.

Cuối chiều tiếng mõ no đủ, khoan thai trong cậm kịch tiếng móng guốc lối mòn dưới tàng cây xanh phất phơ sương núi, bếp lửa nhà sàn thắp sáng thung xa, những đứa trẻ vung cờ lau thúc bầy trâu đủng đỉnh về chuồng.

Đêm khuya tiếng mõ lốc tốc đột ngột, là có kẻ gian lén lút rình quanh, trâu thấy hơi lạ giật mình. Thào thào trong gió tiếng mõ lắc cắc đu đưa rung nhẹ là trâu ngứa da tỳ sườn vào gióng chuồng cho hả.

Mưa dầm tiếng mõ luẩn quẩn khe nước chảy. Nắng ấm tiếng mõ rộng vang rơi rơi hoa trẩu, hoa mua nở thảng thốt mấy lòng thung. Tháng ba ngày tám giáp hạt tiếng mõ rã rời. Mõ trâu, tiếng bộ gõ của chiềng, chỉ cần nghe giai điệu người ta cũng biết những vui buồn mùa vụ.

Riêng già Đông Chắt, nghe tiếng mõ cũng biết đâu trâu đực trâu nái, trâu khỏe, trâu yếu. Già bảo.

- Mõ trâu đực thì hung hăng, mõ trâu nái nhỏ nhẹ. Mõ trâu khỏe thì đanh giòn. Mõ trâu bệnh phều phào.

Già có biệt tài thôi miên. Trâu bò nhà ai thiến hoạn bị dòi bọ đều gọi già tới làm nèm. Lùi lùi tiến tiến khoảng bảy bước chân, già nhìn trừng trừng vào chỗ bị thương mưng tấy của con vật, mắt tóe ánh sao, miệng hô: “Chạy đi, chạy đi!”. Tức thì lũ dòi cuốn lấy nhau thành cục trắng nhởn rơi bì bụp xuống đất.  

Mỗi cuối thu, khi nước suối lắng mình trong veo, bầy cá sáp đuôi đỏ lượn vờn giữa xanh biếc thủy sinh và cuội trắng, ấy là lúc báo mùa lũ rừng của một năm chấm hết. Thời khắc để già Đông Chắt bận rộn làm cối gạo nước cho chiềng trên xóm dưới thay thế những cái cối bị lũ xuân hè cuốn trôi.

Nhà tôi, xe đạp Thống Nhất và chiếc đài Ô-ri-on-ton như cái hòm khóa chuông - là hiện hữu của văn minh cơ khí đương đại. Tôi chỉ được phép sờ đến lốp, chứ cái đài đáng kính như cả tòa lâu đài kia thì đừng có mơ, dù cỗ máy của văn minh tiền sử kia khiến tôi háo hức vô cùng.

Nước từ đôi ống bương trên bờ phai đắp ngang suối dốc vào bầu nước khiến cần cối nâng lên cao trong chuỗi âm thanh ken két của tai cối nghiến vào hai trụ đỡ, nước từ bụng cần cối òa ra, cần cối hẫng hụt trọng lượng bổ nhào xuống nện chày vào miệng cối giã. C ô ô ng ! Bụp! C ô ô ng! Bụp! Trình tự nâng lên hạ xuống nhịp nhàng trung tính, hết ngày tới đêm rồi một sớm mai mùi gạo nương mới thơm lừng gọi bướm vàng bướm trắng rắc hoa vàng hoa bạc khắp thung xanh.

Nếu như tiếng mõ là cả một dàn hợp xướng tùy hứng trên núi của bầy trâu thì tiếng cối gạo nương solo ấm no trầm hùng bên dòng suối. Số lượng cối gạo nước là chỉ số đo giàu có, giỏi giang của mỗi chiềng.

Cối gạo nước theo nguyên tắc đòn bẩy, nếu bầu nước và phía mỏ cối chưa đủ nặng cần thiết để bập bênh, già Đông Chắt sẽ buộc thêm một hai cồ đá phiến vào một trong hai đầu cho thích hợp.

Nguyên việc chọn gỗ cho việc chế tác cối gạo nước, cũng khiến già Đông Chắt phải luồn rừng phờ phạc mấy ngày đánh dấu cây. Đốn cây, bóc vỏ lao xuống khe, già mắc ách con trâu mộng sừng vành trăng, kéo về để dưới gốc duối. Già có thể ngả lưng ngay trên thân gỗ nắm khoèo gáy pho pho kéo tận xế chiều. Gỗ dùng làm cần cối phải là gỗ chò nâu, thứ cây chịu nước, thân thẳng, lúc mới đốn hạ còn tươi gỗ mềm sụt, dễ cho việc khoét bầu nước. Thanh tai cối, kén lõi thọ vàng hươm, dẻo, dai, chịu mài mòn kể cả lúc khô hay bị nước suối dâng trào. Gỗ làm chày hoặc thành ngạnh, vãy táp, nhãn rừng, sâng đá dùng nguyên lõi. Còn cối giã, già chỉ cần tang gỗ trẹo ít nứt dập cong vênh, chịu va đập. Đôi ống dẫn nước thì chẳng cần cầu kỳ gì mấy, có thể chặt bất cứ khóm bương mọc ven suối Cái.

Ngày khai cối, cúng con gà con, nửa chai rượu và nắm xôi nóng lăn lòng cối. Già Đông Chắt tu rượu suông, còn xôi, gà con luộc lá chanh băm đều dúi cho đám chúng tôi mỗi đứa một miếng. Điềm nhiên nhận phần mình, chúng tôi biết phần của già sẽ là cối gạo nếp nương còn nguyên cả cám mà chủ cối mang đến tận nhà già hậu tạ.

Bây giờ thì hạt lép như hạt mẩy

Bông uốn câu bông ngay cột cờ

Đều nằm gọn lỏn trong bụng mày không cựa quậy

Đều bị nhồi lên lộn xuống tùng phèo.

Mấy ngày mấy đêm dằng dặc

 Vỏ trấu thì thành cám

Nõn nà thành gạo thơm

Ăn cơm thơm, mấy người biết gạo tắm mình trong cám trong rơm(*).

Cối gạo nước dựng dọc triền suối Cái, khe Trâm, khe Hẻm, có thể xa nhà, có thể gần nhà, mà chẳng ai lấy của ai. Khách lỡ độ đường có thể vốc một hai vốc ở mỗi cối, nấu bữa lót lòng độ nhật, không ai lấy làm phiền.

Những đêm trăng sáng, tiếng cối gạo nước vọng xa vọng gần thứ thanh âm của chày gỗ của nước reo nghe buồn tênh, một nỗi buồn thanh bình yên ả, sao cứ khiến cho người nào đó vô tình để thấm vào ấn tượng, sẽ không bao giờ còn được tĩnh lặng mỗi khi nhìn về chân núi xa xanh đã phôi phai.

Đấy là người dưng, huống nữa là Tôi, người hưởng những tinh cốt của miền thượng du ê hề phong vị dân gian. Thấm thoắt mất ba mươi năm. Tôi đi lính rồi xa luôn mường Cự Thắng. Ngày Tôi về, gốc duối xưa sét đánh chết đứng. Bạn xưa làm chân gác chợ. Mộ già Đông Chắt chôn bên cối gạo nước. Cối còn nguyên mà nước cạn dòng. Nước mắt tôi tưởng cũng cạn. Đã từ lâu, Tôi như không còn khả năng khóc một điều gì, mà chiều Thu bỗng nhòa đi. Tại sao thế nhỉ? Già Đông Chắt đâu có họ hàng gì với nhà Tôi. Miền thơ ấu dân gian ru rín tuổi Tôi. Miền thơ ấu dân gian in hằn hồn Tôi vết bỏng của biết ơn. Trên mộ già Đông Chắt, theo tục lệ chia của của người Mường, ngoài vật dụng cần thiết: chiếc rìu, nỏ, điều cày, chiếc nồi đồng đỏ, ống bương vác nước còn có chiếc mõ trâu. Cái mõ bương dập không còn dùi gỗ.

                                              N.T.T.K

Những câu thơ in nghiêng là của tác giả.


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.