NỘI DUNG CHI TIẾT
DẤU ẤN XỨ THANH - LAM KINH
6/26/2013

 

Ghi chép của ĐỖ NGỌC DŨNG

Triển khai đợt vận động sáng tác đề tài chiến tranh cách mạng về hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ 1930 - 1975 do Bộ VH, TT & DL và Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam tổ chức. Tháng 5 vừa qua nhóm phối hợp hoạt động văn học nghệ thuật các vùng kinh đô Việt Nam xưa và nay, gồm các tỉnh, thành phố: Phú Thọ, Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa và Thừa Thiên - Huế. Hội VHNT Thanh Hóa - đơn vị đăng cai lần này đã tổ chức chuyến đi thực tế điền dã đến các di tích lịch sử cách mạng rất có ý nghĩa.

Mỗi đoàn 10 thành viên và có từ 2 - 3 tham luận cho hội thảo VHNT đề tài lịch sử và chiến tranh cách mạng. Mấy ngày nghỉ tết 30/4 và 1/5, còn một ngày thu xếp công việc cơ quan, sáng 3/5 chúng tôi lên xe trên Quốc lộ 1A về xứ Thanh (Lam Kinh). Đoạn đường 250 km Việt Trì - Thanh Hóa như ngắn lại bởi thời tiết mát mẻ dễ chịu, thêm vào đó là những câu chuyện vui, những bình luận văn chương từ hai nhà văn gạo cội Phú Thọ Nguyễn Hữu Nhàn và nhà thơ Kim Dũng, thêm nữa còn có Vũ Quốc Khánh, Chủ tịch Hội VHNT huyện Thanh Sơn và Út Mười - Giám đốc doanh nghiệp tư nhân, say ảnh nghệ thuật. Qua Ninh Bình nghỉ ăn trưa chóng vánh, cơm cháy thịt dê xe lại hướng xứ Thanh.

Địa chỉ 68 Hàn Thuyên là nhà khách Tỉnh ủy, chúng tôi đến cùng lúc với đoàn Hà Nội và đoàn Huế, đoàn Ninh Bình đến chậm hơn. Ổn định phòng nghỉ, vừa kịp ngả lưng một lát, điện thoại đổ chuông liên tiếp, thì ra nghệ sỹ Xuân Hương và Chủ tịch Hội Thanh Hóa nhạc sỹ Đồng Tâm mời các đoàn tranh thủ đi tìm hiểu thực tế cầu Hàm Rồng, trận địa pháo cao xạ bảo vệ cầu.

Đã có sự chuẩn bị trước, Hội Thanh Hóa mời nhà văn Lê Xuân Giang - nguyên là Chủ tịch Hội làm hướng dẫn viên cho đoàn. Anh Giang nguyên là Chính trị viên đại đội pháo trên đồi C4 Hàm Rồng. Anh và tôi đã cùng đi trong đoàn văn nghệ sỹ Việt Nam sang thăm và làm việc ở Trung Quốc từ năm 1999 và rồi cũng chính anh với tôi đã mở ra quan hệ giao lưu hợp tác giữa 2 Hội Phú Thọ và Thanh Hóa từ nhiều năm trước. Giờ gặp lại rất mừng, thấy anh vẫn khỏe, nước da hồng hào, vẻ nhanh nhẹn, anh cầm loa thuyết minh cho chúng tôi như một hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp.

Cầu Hàm Rồng lịch sử và trận địa pháo đồi C4 được khởi công xây dựng năm 1962 đến 1964, cầu gồm 2 nhịp dầm thép, ở giữa là đường sắt, 2 bên là đường ô tô và đường dành cho người đi bộ. Cây cầu có vị trí giao thông quan trọng, là cầu đường sắt duy nhất đi qua sông Mã. Khi mở cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân ra miền Bắc năm 1965, đế quốc Mỹ coi cầu Hàm Rồng là mục tiêu tấn công, nhằm cắt đứt tuyến giao thông huyết mạch chi viện cho chiến trường miền Nam của ta. Mỹ đã huy động một lực lượng lớn máy bay hiện đại và bom đạn có sức công phá lớn nhất vào một cây cầu nhỏ bé. Quân và dân Nam Ngạn - Hàm Rồng đã chủ động sẵn sàng đánh địch với thế trận phối hợp giữa bộ đội phòng không, cảnh sát giao thông, dân quân tự vệ Nam Ngạn, Yên Vực, Nhà máy điện Hàm Rồng, tạo nên một lưới  lửa bủa vây từ nhiều phía, nhiều tầng. Chỉ trong 2 ngày 3 và 4/4/1965 đã có 47 máy bay bị bắn hạ có cả “Thần Sấm con ma” F105 , chiến công lúc đó đã làm nức lòng quân và dân cả nước và bè bạn quốc tế.

Trên ụ pháo đồi C4 năm xưa, anh Giang đã cho chúng tôi hình dung được một phần nào cái thảm khốc của chiến tranh, của cuộc chiến chống trả quyết liệt với không lực Hoa Kỳ, trong đó anh cùng anh Từ Nguyên Tĩnh ngày ấy là những cán bộ, chiến sĩ pháo thủ sẵn sàng chấp nhận hy sinh vì cây cầu, vì Tổ quốc với khẩu hiệu “Thà gục bên mâm pháo, quyết không để cầu gục”. May mắn hơn đồng đội là các anh vẫn lành lặn và đều trở thành các nhà văn tên tuổi để rồi chính các anh là những nhân chứng sống viết những tác phẩm về chiến tranh, về đồng đội và về cây cầu huyền thoại. Trong đoàn văn nghệ sỹ hôm nay có nhiều nhà văn, nhà thơ khá quen thuộc với bạn đọc như Nguyễn Quang Hà, Ngô Minh, Hồ Thế Hà, Nguyễn Hữu Nhàn, Kim Dũng, Bình Nguyên Xuân Thu cùng nhiều nghệ sĩ khác Phạm Kim Bình, Hà Khanh, Lê Phùng, Đan Thiết Thụ... Chúng tôi trèo lên các ụ pháo năm xưa, xuống thăm hầm trú ẩn rồi cùng chụp ảnh lưu niệm, hỏi anh về những trận đánh năm đó, về những nhân vật lịch sử, những hành động anh hùng: Ngô Thị Tuyển, Nguyễn Thị Hằng, Hàn Thị Tình, Lê Thị Huệ, Lê Thị Dung... Tiếc rằng, nơi đây chưa có nhà lưu niệm, cũng không có một khẩu pháo năm xưa và những minh chứng sống trong cuộc chiến bảo vệ cầu Hàm Rồng lịch sử. Đoàn xuống bên chân cầu chụp ảnh lưu niệm, hỏi anh về chuyện 2 tên phi công Mỹ là Trung tá  Đen-tơn và Trung úy Chu-đi dù không mở kịp bị treo trên ngọn dừa bên dòng sông Mã, rồi cô dân quân Nguyễn Thị Thạch làng Nam Ngạn giải đưa sang bờ Bắc. Rồi nghe anh kể những trận đánh ác liệt năm 1966 - 1967, có lúc trong 3 ngày Mỹ đã dùng hơn 365 lần máy bay tấn công vào Hàm Rồng, với những thủ đoạn tinh khôn như máy bay đột kích, pháo kích, pháo tên lửa thả thủy lôi từ hạm đội ngoài biển Đông vào. Nhưng quân và dân Hàm Rồng vẫn anh dũng đánh trả và bảo vệ cây cầu với một niềm tin tha thiết vì huyết mạch giao thông, vì những chuyến tàu, xe, những đoàn quân, vì miền Nam ruột thịt.

Đến năm 1972 giặc Mỹ ném bom trở lại, chúng dùng B52 giải thảm, dùng bom thông minh (điều khiển bằng Lasen) phá cầu Hàm Rồng, Hàm Rồng chứa trong mình những vết thương hằn sâu trong lòng mỗi người dân, người lính từng quyết tử cho cây cầu còn lại cùng thời gian. Tôi thầm nghĩ, chúng tôi đã qua đây biết bao lần, vô tình mới chỉ hiểu một phần ít ỏi về cây cầu vàng trong cuộc chiến chống Mỹ. Để từ đây quá khứ và hiện tại trong tôi hòa quyện như một sự tất nhiên nào đó về niềm tự hào dân tộc, niềm tự hào chính đáng của người xứ Thanh, về một cây cầu kiên cường như một cổ tích, một câu chuyện huyền thoại mà có thật.

Trước bữa cơm chiều tại nhà khách Tỉnh ủy Thanh Hóa đã diễn ra buổi gặp mặt giao lưu với Đoàn văn nghệ sĩ các vùng kinh đô Việt Nam xưa và nay. Nhạc sỹ Đồng Tâm - Chủ tịch Hội có đôi lời về mục đích, ý nghĩa của chuyến đi thực tế này nhằm giúp cho mỗi văn nghệ sỹ có thêm những vốn sống thực tế về đề tài chiến tranh cách mạng, anh Đỗ Quang Hưng - Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo phát biểu chào mừng đoàn. Đây là lần thứ hai tôi gặp Hưng, lần thứ nhất tại Sầm Sơn khi anh đến dự và phát biểu tại hội thảo về lý luận phê bình văn học các vùng kinh đô Việt Nam, anh là một cán bộ trẻ tri thức và nhiệt tình mới qua tuổi 40. Được biết anh đang học lớp cán bộ cao cấp nguồn quy hoạch cho Đại hội XII của Đảng, trong bữa cơm thân mật ấy mới biết anh còn là một cây văn nghệ cừ khôi hát được nhiều thể loại.

Cồn Ba Cây, Cồn Mã Nhón và Tượng đài Lão quân Hoằng Trường. 7h sáng hôm sau, theo chương trình chúng tôi đến huyện Hoằng Hóa, nơi đầu tiên mà đoàn ghé thăm là địa danh Cồn Ba Cây thuộc thôn Hồng Nhuệ, xã Hoàng Thắp. Cô gái tên Nga xinh đẹp, một cán bộ trẻ ở Trung tâm văn hóa huyện giới thiệu với đoàn, gọi là Ba Cây vì nơi đây có ngôi đền cổ thờ thành hoàng làng, 3 góc cồn có 3 cây muỗm to. Nơi đây diễn ra nhiều cuộc phục kích đánh úp quân địch, ngày 11/7/1945 đã diễn ra cuộc tuần hành võ trang lớn nhất huyện thời kỳ tiền khởi nghĩa, cuộc mít tinh biểu dương lực lượng thị uy kẻ thù thu hút gần 4 vạn quần chúng tham gia. Cồn Mã Nhón, thuộc xã Hoằng Đạo với địa thế hiểm trở một bên là cồn cây rậm rạp, một bên là đồng lầy, là nơi ta thường tổ chức phục kích địch, trước khí thế cách mạng trào dâng, Tỉnh trưởng Thanh Hóa lúc đó phải hốt hoảng phái nhiều lính Bảo an đến đàn áp. Sáng 24/7/1945 tri phủ Phạm Trung Bảo bị bắt sống, việc bắt sống tri phủ Phạm Trung Bảo là sự kiện có ý nghĩa lịch sử mở đầu cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền từng phần sớm nhất toàn tỉnh Thanh Hóa.

Đến với Tượng đài Lão quân Hoằng Trường, trong khuôn viên 12.000m2 tượng lão quân Hoằng Trường cao 17m, nặng 170 tấn bằng chất liệu đá Thanh Hóa. Đây là một công trình nghệ thuật tưởng niệm và ghi nhớ chiến công của 18 cụ trung đội lão dân quân Hoằng Trường, bằng súng bộ binh bắn rơi 2 chiếc máy bay Mỹ vào các ngày 14 và 24/10/1967 được Bác Hồ gửi thư khen. Trong nhà lưu niệm còn có 1 khẩu súng 12 ly 7 năm xưa, thùng dầu phụ của máy bay và đặc biệt là 18 chiếc mũ rơm của 18 cụ. Để có tấm hình kỷ niệm, nhiều văn nghệ sĩ trong đoàn, cả nhà thơ Xuân Thu đội mũ rơm, ngắm súng 12 ly 7 như những lão quân năm nào, tôi bỗng nhớ đến câu hát: “Hoan hô trên đất này có cụ già bắn rơi máy bay…”.

Căn cứ Ba Đình. Tạm biệt huyện Hoằng Hóa, chúng tôi đến huyện Nga Sơn để tìm hiểu về một địa danh, một căn cứ kháng chiến nổi tiếng có tên Ba Đình. Đoàn xe ghé thăm trụ sở Huyện ủy và đón các anh ở Ban Tuyên giáo huyện cùng đi. Trên xe anh Hoàng Thế Dần - Phó Ban Tuyên giáo cho biết Nga Sơn là vùng đất do biển bồi tạo nên, có 3 mặt giáp sông, 1 mặt giáp biển, huyện có 26 xã, thì có 24 xã tên gọi đều là Nga, những cánh đồng bát ngát của vùng chiêm (lúa); lúa mầu (vùng giữa); cói và nuôi trồng thủy sản (vùng biển). Cô gái trẻ xinh đẹp tên Thy Lan tốt nghiệp Đại học Vinh mới về Tạp chí xứ Thanh đầu quân cho Tổng biên tập Hoàng Trọng Cường mà Hội bạn tin gửi sang xe tôi cũng là người Nga Sơn, Lan cho biết thêm quê em là một trong 8 xã vùng cói làm nên chiếu cói Nga Sơn nổi tiếng. Ba Đình là 1 xã đồng chiêm của huyện Nga Sơn, căn cứ Ba Đình được xây dựng trên địa bàn 3 làng: Mỹ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh, gọi là Ba Đình vì mỗi làng này đều có 1 cái đình. Cuối thế kỷ XIX triều đình nhà Nguyễn suy vong, thực dân Pháp bất ngờ tấn công vào Đà Nẵng, đánh chiếm 6 tỉnh Nam Bộ từ 1883 - 1885 Pháp liên tục đánh chiếm Bắc Kỳ sau khi thành Hà Nội thất thủ quân nhà Nguyễn hoang mang, triều đình phân tán làm 2 phái, phái chủ hòa và phái chủ chiến. Năm 1885 khi kinh thành Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết đứng đầu phái chủ chiến đưa vua Hàm Nghi lên chiến khu ở Quảng Trị ra chiếu Cần Vương kêu gọi toàn dân chống Pháp. Lúc này phong trào ở Thanh Hóa rất mạnh lôi cuốn nhiều văn thân có tiếng như: Bố chính Nguyễn Xuân Quỳnh, Tổng đốc Lê Văn Rạng, Tiến sĩ Tống Duy Tân, Đốc học Phạm Bành, Quan huyện Hoàng Bật Đạt… Tôn Thất Thuyết đã chọn Thanh Hóa làm căn cứ dấy binh, tụ nghĩa, mời Đinh Công Tráng, một tướng giỏi thao lược vào Thanh Hóa bàn quốc sự và quyết định lập căn cứ Ba Đình, rồi giao cho Đinh Công Tráng, Phạm Bành và Hoàng Bật Đạt xây dựng và bảo vệ vị trí trọng yếu này, nhằm biến Thanh Hóa thành căn cứ kháng chiến vững chắc cho cả nước. Lúc đầu nghĩa quân Ba Đình chỉ có khoảng 300 người, càng về sau càng được bổ sung các trai tráng được tuyển chọn luyện tập kỹ lưỡng từ các địa phương. Sau đó nghĩa quân đã tỏa ra đánh địch ở nhiều nơi, làm cho chúng bị tổn thất lớn. Tin tức về nghĩa quân Ba Đình làm cho giặc Pháp hết sức lo ngại. Chúng đã tìm mọi cách để tiêu diệt, nhưng đều bị chặn đứng trước những tay súng, tay cung thiện xạ của nghĩa quân, nhiều tên bị tiêu diệt ngay trước chiến lũy và trên đường rút lui.

Rõ ràng căn cứ Ba Đình là một cái gai án ngữ hai miền Trung - Bắc mà bọn giặc Pháp cương quyết phải nhổ. Cuối năm 1886 và đầu 1887, Pháp đã huy động số quân tới gần 2.500 quân, đủ các binh chủng với nhiệm vụ tiêu diệt toàn bộ nghĩa quân và bắt sống thủ lĩnh Đinh Công Tráng. Địch mở nhiều đợt tấn công nhưng lại tổn thất nặng nề, cuối cùng địch đã dùng dầu phun lửa và đại bác bắn dồn dập nhiều ngày cô lập nghĩa quân, cuộc chiến ngày càng khốc liệt Đinh Công Tráng đã quyết định rút quân để duy trì lực lượng. Sau khi chiếm được căn cứ thực dân Pháp đã trả thù hèn hạ, ra lệnh triệt phá bỏ làng Thượng Thọ, Mậu Thịnh, Mỹ Khê, đàn áp dã man tất cả những ai tham gia khởi nghĩa. Chúng còn bắt bọn phong kiến Nam triều xóa bỏ tên 3 làng ra khỏi bản đồ Việt Nam. Cuộc khởi nghĩa Ba Đình là nỗi khiếp đảm không chỉ của quân Pháp và bọn phong kiến tay sai ở Việt Nam mà còn chấn động tới sào huyệt của chủ nghĩa thực dân ở chính quốc lúc đó.

Giờ tôi mới biết, thì ra cái tên Ba Đình ở Thủ đô Hà Nội là xuất phát từ đây, nó thật là có ý nghĩa. Trên đường về Huyện ủy Nga Sơn, chúng tôi còn ghé thăm đền thờ Mai An Tiêm dưới chân một quả núi, mà trước đây quả núi này chính là hòn đảo khi biển chưa bị bồi xa, dấu tích còn lại nơi đây là ngấn nước biển ăn mòn núi đá, có chỗ mòn sâu hàng chục mét. Tương truyền do phạm lỗi húy nên Hùng Vương thứ 18 đã lưu đày vợ chồng Mai An Tiêm ra đảo hoang, khi lương thực cạn dần thấy có đàn chim đang ăn quả gì lõi đỏ hạt đen, nghĩ chim ăn được thì người cũng ăn được nên vợ chồng Mai An Tiêm đã lấy hạt để trồng, rồi quả mỗi ngày một nhiều, ăn ngon, họ đã buộc thành túm khắc chữ lên đó thả trôi về đất liền, để rồi có giống dưa hấu ngày nay. Đoàn còn thăm trụ sở xã Nga An, những tòa nhà mới được xây dựng trong một khuôn viên to đẹp. Bí thư Nguyễn Bá Tĩnh và Chủ tịch Trịnh Minh Thư đón tiếp đoàn, các anh cho biết xã đã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2013 là một xã anh hùng thời kỳ chống Pháp, cán bộ và nhân dân xã đang ra sức phấn đấu là xã anh hùng thời kỳ đổi mới.

Bữa cơm trưa chiêu đãi đoàn chúng tôi ở một nhà hàng sang trọng trung tâm huyện, Bí thư Huyện ủy Mai Sĩ Hiếu cùng nhiều lãnh đạo Huyện ủy, UBND huyện có mặt đông đủ chào đón đoàn với sự niềm nở chân tình, anh Hiếu là người yêu âm nhạc và quý trọng nhạc sỹ Đồng Tâm, anh cho biết đã mời nhạc sỹ Đồng Tâm và một nhạc sỹ ở Trung ương về sáng tác bài hát cho huyện khá thành công, rồi yêu cầu nhạc sỹ Đồng Tâm cho ca sỹ hát lại ngay bài hát đó trong bữa tiệc...

Chiến khu Ngọc Trạo: Chia tay huyện Nga Sơn và Bí thư Hiếu, chiều cùng ngày chúng tôi đến huyện Thạch Thành, điểm dừng chân đầu tiên của đoàn là Chiến khu Ngọc Trạo. Nơi đây có tượng đài chiến thắng cùng bức phù điêu bằng đá tái hiện và ghi dấu về sự dũng cảm chiến đấu hy sinh của các chiến sĩ du kích năm xưa. Chúng tôi xếp hàng dâng hương cho các liệt sĩ tại nơi đây rồi sang nhà truyền thống. Cô gái trẻ hướng dẫn của khu di tích cho biết: đầu những năm 1940 - 1941 tinh thần quật khởi của khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ đã khích lệ phong trào phản đế cứu quốc của nhân dân Thanh Hóa, thực hiện chủ trương của Trung ương và Xứ ủy Trung Kỳ. Chiến khu Ngọc Trạo và đội du kích Ngọc Trạo được thành lập, ban đầu chỉ có 21 chiến sĩ do đồng chí Đặng Châu Huệ chỉ huy, sau tăng cường thêm gần 100 chiến sĩ tự vệ các huyện Thọ Xuân, Thiệu Hóa, Yên Định. Được nhân dân đùm bọc, tiếp tế lương thực, thực phẩm, các chiến sĩ hăng say luyện tập chuẩn bị đánh địch. Khi biết chính xác được điểm đóng quân của đội du kích, ngày 18/101941 quân Pháp đã tập trung 500 lính cùng hàng ngàn tuần đinh yểm trợ cho cuộc càn quét, với tinh thần quyết tử các chiến sĩ đã đẩy lùi nhiều đợt tấn công của địch. Rạng sáng ngày 19/10/1941, lợi dụng sương mù của rừng núi địch đã tập kích vào căn cứ. Cuộc chiến không cân sức diễn ra ác liệt, nhiều tên địch bị tiêu diệt bằng súng kíp và cả mã tấu, một số phải rút khỏi trận địa. Nhưng với hỏa lực mạnh, đông quân, một số chiến sĩ của ta bị bắt, một số hy sinh, cuộc chiến đấu tuy không giành thắng lợi nhưng nó là tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc của các đảng viên, đoàn viên dưới sự lãnh đạo của tổ chức Đảng non trẻ, mà tiêu biểu là Phạm Văn Hinh, Hoàng Văn Môn, Đỗ Văn Trước mãi mãi bất tử. Ngọc  Trạo mãi sẽ là bản hùng ca bất tử.

Buổi chiều về trung tâm huyện bắt gặp không khí của đô thị đang trên đà phát triển, lãnh đạo huyện tổ chức buổi gặp mặt, có đông đủ lãnh đạo huyện. Sau giới thiệu của MC - NSƯT Hoàng Dùng, CVP Hội Thanh Hóa, Chủ tịch UBND huyện Lê Văn Chinh, đẹp trai, phong độ phát biểu khái quát về Thạch Thành huyện phía bắc của Thanh Hóa, huyện có 26 xã, 2 thị trấn, chủ yếu là người Kinh và Mường… Anh bày tỏ tình cảm trân trọng của mình, của lãnh đạo huyện đối với các văn nghệ sĩ 5 tỉnh, thành phố đã về với Thạch Thành anh hùng. Chủ tịch Chinh còn tặng mỗi đoàn một bức ảnh kỷ niệm về chiến khu Ngọc Trạo.

Bữa tiệc buổi chiều cuối tuần nên Chủ tịch Chinh đã huy động đại biểu tất cả các ban, ngành trong huyện, đặc biệt có nhiều cô giáo trẻ đẹp hát hay, uống giỏi nữa tiếp chúng tôi. Mọi người say sưa hát, giao lưu đọc thơ, lại có cả bài hát của nhạc sỹ Đồng Tâm viết về Thạch Thành. Chủ tịch Chinh đã hát liền 3 bài, bữa tiệc vui vẻ, kéo dài tới đêm khuya.

Làng Quần Tín - Khu lưu        niệm Văn nghệ Việt Nam thời kỳ 1947 - 1954

Sáng hôm sau là ngày thứ 3 của chuyến đi, trước khi chia tay dù đã là ngày nghỉ (chủ nhật), lãnh đạo Thạch Thành đã có mặt đông đủ tiếp đoàn ăn sáng, mời đoàn thăm trụ sở UBND huyện (toà nhà 5 tầng khang trang) trong không khí hân hoan, Chủ tịch Chinh còn tặng mỗi thành viên trong đoàn 1 chai mật ong rừng quí, thi sỹ Xuân Thu (Phú Thọ) cảm động đã có ngay bài thơ mới sáng tác đọc tặng anh Chinh và huyện Thạch Thành.

Xe qua huyện Vĩnh Lộc, đoàn tranh thủ ghé thăm Thành Nhà Hồ - phế tích của một công trình đồ sộ bằng đá, triều đại Hồ Quý Ly đầu thế kỷ XV mới được UNESCO công nhận là Di sản thế giới năm 2012, nơi đây chỉ còn lại những cổng thành ở các hướng và những đoạn tường thành ôm một khuôn viên rộng lớn 5 ngàn ha.

Sau hơn 1 giờ trên xe làng Quần Tín, xã Thọ Cường, huyện Triệu Sơn đã hiện ra trước mắt chúng tôi. Khu làng còn nghèo, những mái nhà tranh cũ kỹ nhưng ấm áp tình người đón tiếp chúng tôi như đã định trước. Bí thư, Chủ tịch HĐND xã cô Nguyễn Thị Thanh một cán bộ trẻ đầy nhiệt tình, cùng nhiều cán bộ và bà con làng Quần Tín chuẩn bị sẵn bàn ghế, chè nước tiếp đoàn và hướng dẫn đoàn thăm quan một số gia đình, các địa danh lịch sử trước đây. Nơi đây sau khi cuộc kháng chiến bùng nổ năm 1947, nhiều cơ quan nhà nước và nhân dân Hà Nội phải tản cư vào vùng tự do Thanh Hoá. Quần Tín được chọn là “An toàn khu” để Hội Văn nghệ Việt Nam, cùng một số nhà chính trị, quân sự về đây hoạt động, làm việc. Chương trình đại học văn hoá khoá 1 và 2 được mở tại đây do thầy Đặng Thai Mai làm hiệu trưởng. Nhiều giảng viên có uy tín về văn học nghệ thuật đến giảng dạy như: Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Hải Chiều, nhà văn Nguyễn Tuân, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đình Lạp, Nguyễn Xuân Sanh, Chế Lan Viên, Đào Duy Anh... và cũng tại ngôi đình làng còn có nhiều nhà chính trị, quân sự, khoa học, văn nghệ sỹ đến giảng dạy, nói chuyện với lớp như: cụ Hồ Tùng Mậu, đồng chí Trường Chinh, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Ngọc Thạch, Xuân Diệu, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Thế Lữ, Minh Huệ, tướng Nguyễn Sơn. Tại đây vị tướng “Lưỡng Quốc” Nguyễn Sơn được bà con lấy khu rừng Mẹ Đốp, vườn nhà ông Lam làm doanh trại. Ông đã cưới cô Hằng Huân (dì ruột của hoạ sỹ Vũ Giáng Hương) và sinh cô con gái Nguyễn Thị Hà ở Quần Tín.

Nơi đây còn có xưởng họa cho các họa sỹ, nhà điêu khắc Nguyễn Văn Tỵ, Sỹ Ngọc, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Thị Kim giảng dạy và sáng tác, in tranh phục vụ tuyên truyền. Có cả xưởng giấy, xưởng in ni tô của bà Hằng Phương vợ nhà văn Vũ Ngọc Phan.

Một số tác phẩm Mỹ thuật nổi tiếng như: “Tình quân dân”, “Hạnh phúc”, “Du kích Cảnh Dương” được ra đời từ đây và bây giờ đã trở thành những báu vật mỹ thuật được lưu giữ tại Bảo tàng Quốc gia. Bên cạnh đó bài thơ: “Màu tím hoa sim”, “Đêm nay Bác không ngủ”, “Bài ca vỡ đất”, “Bài ca phá đường” là những tác phẩm VHNT cách mạng có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật.

Người dân Quần Tín luôn tự hào là một cái nôi của cách mạng, của văn nghệ Việt Nam, tự hào vì nhiều người ở Quần Tín năm đó đã là những nhà chính trị, khoa học, văn nghệ sỹ nổi tiếng: Đ/c Phan Diễn - UVBCT - Thường trực Ban Bí thư, Nguyễn Mạnh Cầm - UVBCT, Phó Thủ tướng Chính phủ, Vũ Tú Nam - Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam, Hoàng Trung Thông - Viện trưởng Viện văn học, Vũ Tuyên Hoàng - Chủ tịch Liên hiệp KHKT Việt Nam, nhà thơ Minh Huệ, Cẩm Lai, Trần Văn Giầu, Hữu Loan, Hồng Chương, Vũ Giáng Hương...

Cô Thanh Bí thư xã giới thiệu cho chúng tôi rõ đây là nơi làm trường học ngày đó, nơi có xưởng họa, xưởng in tranh rồi kia là gia đình nơi ông Phan Diễn, ông Nguyễn Mạnh Cầm ở, nơi tướng Nguyễn Sơn lập doanh trại, nơi gia đình nhà văn Đặng Thai Mai ở, nhà văn Vũ Ngọc Phan, Vũ Tú Nam giảng bài, nói chuyện...

Cô Thanh còn cho biết đồng chí Nguyễn Khoa Điềm, nhà thơ Hữu Thỉnh đã về đây đều từng nói “Phải xây dựng ở đây nhà bia lưu danh những người đã đến ở Quần Tín, xây dựng một nhà văn hoá xã, khuôn viên cây xanh cho nhân dân, cho văn nghệ sỹ các thế hệ tìm về nguồn cội của họ”. Tôi biết đây chính là điều mong mỏi bấy lâu của bà con nhân dân cũng như lãnh đạo xã Thọ Cường về một công trình văn hóa cộng đồng, nếu như không làm được điều này thì thế hệ hôm nay đã có lỗi với người dân làng Quần Tín, người dân xã Thọ Cường. Chia tay lãnh đạo và bà con làng Quần Tín, xã Thọ Cường, chia tay nhạc sỹ Đồng Tâm và các văn nghệ sỹ xứ Thanh sau một chuyến thực tế, điền dã rất có ý nghĩa này, tôi cứ day dứt và ẩn hiện trong đầu về những dòng chữ in đậm trong trang cuối bản báo cáo tóm tắt về lịch sử cách mạng của xã: “Nhân dân Quần Tín - Thọ Cường hôm nay dù đời sống còn rất khó khăn đã tự nguyện chỉ trong 2 năm 2011 - 2012 có tới 598 hộ dân hiến 38.160 m2 đất thổ cư, 18.120 m tường rào không nhận một đồng đền bù nào. Vẫn hàng ngày mong chờ để được thấy nhà bia, nhà văn hoá, để được sinh hoạt cộng đồng trong nhà văn hoá sâu nặng nghĩa tình nguồn cội, các đồng chí lãnh đạo, các ngành chức năng hãy tạo điều kiện xây dựng nhà bia, nhà văn hoá để điều mong chờ ấy của nhân dân sớm thành hiện thực, tri ân thủ đô văn hoá kháng chiến, niềm tự hào, niềm tin sâu sắc của nhân dân Quần Tín - Thọ Cường.

                          Đ.N.D

 


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.